HỘI KHOA HỌC PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC - NHÂN TÀI VIỆT NAM - TP. HỒ CHÍ MINH

 

III. Bàn Về Khích Lệ Con Người

Chiêu 68. Với vật chất lấy chữ chính, dùng người với chữ thành

        “Với vật chất lấy chữ chính” xuất xứ từ chương 1 “Văn thao” trong “Lục thao”, binh pháp của Khương Thái Công, đó là phương lược trị nước yên láng giềng do Thái Công đề ra cho Chu Văn Vương. Chu Văn Vương hỏi: Ta nên ở vị trí làm vua thế nào? Thái Công đáp rằng vua trị vì thì phải bình tĩnh, chậm rãi, mà không nên nóng nảy vội vàng; Phải dịu dàng và nhịp nhàng chớ nên cứng nhắc theo ý mình, phải biết cho, mà chớ nên tranh lợi với bên dưới; Nên khiêm nhường chứ đừng nên tự mãn; Chí công minh mà không vụ lợi, dùng thái độ công bằng trong sáng mà đối xử với con người cũng như sự việc

       “Dùng người với chữ thành” là nói người chủ soái hoặc lãnh đạo đối xử với tướng lĩnh, đại thần hoặc cốt cán bên dưới như thế nào. “Với vật chất lấy chữ chính”, là chỉ mình phải làm mẫu mực như thế nào. Mình nêu được tấm gương ra mới chỉ giải quyết được một nửa vấn đề, nửa vấn đề còn lại dùng người ra sao. Âu Dương Tu, trong “bàn về giao việc ở chỗ không được nghi ngờ” có chỉ ra rằng: cái đạo của sự giao việc cho người là ở chỗ không nghi hoặc. Chẳng thà là phải chọn người khác, chứ không thể giao việc bừa đi cho người ta mà không tin tưởng”. Đối với người ở bên dưới mình, dùng hay không hoàn toàn có thể lựa chọn, nhưng “tin hay không tin”, “thành khẩn hay không thành khẩn” thì không thể do dự. Người mà không tin tưởng thì dứt điểm không dùng, đã dùng rồi thì nên tin người ta, lấy thái độ thành thực để đối xử với họ, dùng họ. Điều tối kỵ trong vấn đề dùng người mà không tín nhiệm, không chân thành. Đối xử với người mà không thành thực thì làm sao đổi lại sự thành thực của người khác đối xử lại. Trong lịch sử, Tề Hoàn Công dùng Quản Trọng; Lưu Bang giao việc cho Lý Bố đều là những thí dụ điển hình về “dùng người với chữ thành”.

      Quản Trọng  725 TCN - 645 TCN là một chính trị gianhà quân sự và nhà tư tưởng Trung Quốc thời Xuân Thu (685 TCN). Tên ban đầu của ông là Di Ngô. Trọng là tên hiệu. Được Bảo Thúc Nha tiến cử, Tề Hoàn Công phong ông làm Tể tướng năm 685 TCN. Ông nổi tiếng với "chiến lược không đánh mà thắng" mà người Trung Hoa gọi là diễn biến hòa bình - đó là tấn công bằng mưu trí, trừng phạt và dùng kinh tế để giáo huấn.

      Tề Hoàn Công tên là Tiểu Bạch, người anh tên là Quang. Để tranh giành ngôi vua, công tử Tiểu Bạch và công tử Quang mỗi người mời về một ông thầy. Tiểu Bạch mời Bào Thúc Nha, công tử Quang mời Quản Trọng. Sau khi quân vương tiền bối của họ mất đi, hai anh em cùng một lúc quay về nước để cướp ngôi báu. Trong cuộc đấu tranh giành ngôi báu đó, Quản Trọng đã bắn trúng Tiểu Bạch, nhưng rất may tên chỉ cắm vào thắt lưng. Tiểu Bạch đã nhanh trí giả vờ chết vì trúng tên, nhằm lừa đối phương, rồi vội vàng trở về trong nước giành được ngôi vua, xưng là Tề Hoàn Công. Sau khi  lên cầm quyền, Hoàn Công đã giết sạch sẽ cả công tử Quang lẫn những người cùng phe nhóm, chỉ chừa một mình Quản Trọng. Hoàn Công nghe lời khuyên nhủ của Bào Thúc Nha, phong Quản Trọng lên hàng đại phu, nắm quyền lớn về quân sự và chính trị. Để tỏ lòng tôn kính, Tề Hoàn Công còn gọi Quản Trọng là bố Trọng. Thù hận cũ được xóa sạch sành sanh, thay vào là lòng tôn kính và sự tín nhiệm chân thành. Quản Trọng cũng rất biết đáp lại tấm lòng đó, dốc lòng vì nước, làm cho nước Tề giàu mạnh lên rất nhanh và phò tá Hoàn Công trở thành bá chủ.

          Thù hằn của Lưu Bang và Lý Bố cũng chẳng phải vừa. Lý Bố nguyên là một tướng tài đắc lực của Hạng Võ. Mỗi lần Hạng Võ giao chiến với Lưu Bang, Lý Bố đều một mình một ngựa, đi đầu sĩ tốt, xông vào trận địa địch, chém chiến tướng của đối phương, cướp quân kỳ của địch. Có một lần Lý Bố đuổi giết Lưu Bang, xuýt nữa thì chém đứt đuôi ngựa của Lưu Bang. Lưu Bang căm giận Lý Bố tận xương, tận tủy, cho nên sau khi lên ngôi hoàng đế đã treo trọng thưởng truy nã Lý Bố, lệnh kẻ nào che giấu Lý Bố sẽ bị giết cả họ. Ấy thế mà sau này Lưu Bang nghe lời khuyên của bạn là Chu Gia, bãi bỏ lệnh truy nã, còn phong cho Lý Bố một chức quan nhỏ. Lý Bố sau khi được Lưu Bang tin cậy, hết sức trung thành với chính quyền Lưu Hán và trở thành một chiến tướng có tên tuổi của nhà Hán.

         Tóm lại, những thống soái hiền minh trong lịch sử đều “lấy thành thực đối xử với thành thực, dùng chữ tâm sánh với chữ tâm” để ứng xử với cấp dưới.

         Những người quản lý xí nghiệp cũng tồn tại vấn đề “với vật chất lấy chữ chính, dùng người với chữ thành”. Công việc quản lý chủ yếu là quản con người mà quản con người thì trước hết hãy nêu gương cho người bị quản lý. Tự mình có cử chỉ đúng mực, làm gương cho cấp dưới, đó chỉ là tiền đề để làm tốt công việc. Vấn đề tiếp theo, là phải dùng người với thái độ chân thành, tín nhiệm. Dùng người ra sao là mấu chốt của công việc quản lý.

 

        Một người muốn thành công trong sự nghiệp của mình, trước hết phải học cách khen ngợi người khác. Trường hợp của cố Tổng thống Mỹ Lincoln là một ví dụ. Ông rất có tài trong việc phát hiện ra ưu điểm của người khác và luôn biết cách khen ngợi họ. Khi tổ chức nội các, ông tuyển chọn các đối tượng không những là những đồng chí của mình mà còn cả những người đã từng là đối thủ, những người thường đối xử không tốt với ông. Điển hình là tổng chỉ huy lục quân Sitando, người thường nguyền rủa Lincoln là “Con tinh tinh đại nguyên thủy” và trách cứ ông chẳng tài cán gì. Thế nhưng Lincoln vẫn tuyển chọn Sitando trong nội các của mình. Bộ trưởng tài chính Kasy, trợ thủ đắc lực nhất của Lincoln vốn là người không thích thú gì Lincoln, đã từng mưu phản ông, nhưng Lincoln vẫn coi trọng tài năng của Kasy. Ông biết bản thân mình có nhược điểm và ông đã biết cách bù đắp cho những nhược điểm đó bằng cách dùng người trong nội các của mình.

      “Muốn cho mình trở nên quang vinh, cách tốt nhất là hãy để người khác quang vinh hơn mình trước”, bạn hãy ghi nhớ câu danh ngôn chí lý này.

 

Chiêu 69. Ngăn lòng dục để định tướng – Kỵ tính tham để lập quan.

       “Ngăn lòng dục để định tướng, kỵ tính tham để lập quan là nói về chuẩn mực và sự tu tạo bản thân của tướng soái. Binh thư cổ đại  “lục thao”, “tam lược”  đã nói khá nhiều và nhấn mạnh cũng nhiều về vấn đề này. Để tiện minh họa, xin trích ra vài đoạn trong đó:

               

            Khi Khương Thái Công và Vũ Vương bàn về tướng có nói đến một trong mười nhược điểm lớn của người làm tướng là “tham và ham lợi”. Tướng như thế thì không thể trông cậy được. Khi nói đến 8 khuyết điểm lớn của người làm tướng trong “Hoàng Thạch công tam lược” cũng có nói đến một trong khuyết điểm đó là “tham tiền tài”.Nguyên văn như sau: “Tướng chống lời khuyên, thì anh hùng bỏ đi. Sách không theo thì mưu sẽ phản. Thiện ác như nhau thì công thần chán, chuyên nghĩ mình, dưới sẽ quy tội. Tự khoe khoang thì dưới ít công lao. Nghe xúc xiểm thì mọi người không gắn bó. Tham tiền tài thì gian không cấm. Chỉ nghĩ đến bên trong thì sĩ tốt hư. Nếu mắc một điều trên thì mọi người không phục, mắc hai điều quân mất nghiêm, mắc ba điều, bên dưới phân tán, mắc bốn điều họa đến quốc gia.Các nhà mưu lược thời xưa yêu cầu các thống soái về quân sự phải đồng cam cộng khổ với cấp dưới của mình, như thế mới đổi được sự nhất tâm từ trên xuống dưới.

           Thái công chỉ ra rằng, một tướng lĩnh muốn khống chế dục vọng của mình, thì phải:“Mùa đông không mặc áo da, mùa hè không cầm quạt, ngày mưa không dương ô.Tướng soái như thế mới thấu hiểu được nỗi nóng lạnh của quân lính. Đi qua những nơi chật hẹp hiểm yếu, gặp đường lội thì chủ tướng phải xuống ngựa trước mà bộ, như vậy, mới thấm thía nỗi lao khổ của binh lính. Tướng sĩ trong toàn quân đều hạ trại yên ổn rồi, chủ tướng mới được vào doanh ngơi nghỉ; Toàn quân đều đã nấu chín cơm, chủ tướng mới được ngồi ăn; Trong quân còn chưa nhóm lửa nấu ăn chủ tướng quyết không nhóm bếp. Tướng soái như thế, gọi là tướng “ngăn được lòng dục”. Chủ tướng nếu như không khống chế được dục vọng của mình, sẽ không thể thấu hiểu được sự đói no của quân lính. Chủ tướng với binh lính cũng nóng lạnh, lao khổ cùng nhau, no đói có nhau, như vậy binh lính toàn quân động nghe tiếng 

chiêng đều giận dữ, động nghe tiếng trống đều vui mừng. Thành lũy dù cao, hào ngăn dù sâu, binh lính đều tranh nhau xông tới. Đó không phải là họ muốn chết, muốn bị thương mà vì chủ tướng hiểu thấu sự nóng lạnh, nỗi đói no, niềm lao khổ của binh lính nên họ cảm phục mà phấn chấn, sĩ khí mới tăng lên mà không sợ hy sinh.

        Trong “tam lược” của mình, Hoàng Thạch Công còn đòi hỏi, người làm tướng chẳng những phải khống chế dục vọng của mình, mà còn phải “cùng ăn cùng uống,cùng chịu yên nguy với binh lính của mình”. “Chưa đào xong giếng nuôi quân, tướng soái không được kêu miệng khát. Chưa cắm lều giăng bạt, tướng soái không được than mỏi mệt. Chưa nấu xong cơm cho binh sĩ toàn quân, tướng soái không được la bụng đói”. Đó chính là đòi hỏi tướng soái cần phải khống chế dục vọng của mình một cách nghiêm khắc. Hoàng Thạch Công còn nêu lên 1 ví dụ, kể rằng trước đây có một vị tướng soái ưu tú, có người đem biếu ông một hũ rượu ngon, ông sai người đem rượu đổ xuống sông, để tướng sĩ toàn quân cùng uống nước trên một dòng.Một bình rượu không thể làm cho nước dưới sông tất cả đều mang mùi rượu, nhưng tướng sĩ ba quân đều vô cùng cảm động vì tướng soái đã đem rượu ngon chia đều cho mình được hưởng một phần nên lúc chiến đấu đã anh dũng băng lên, mong báo đền bằng cái chết.

       Lại cũng có chuyện như sau: Đại phu Di Xạ của nước Tề, một buổi tối được uống rượu với Tề Vương. Uống cho đến lúc đã ngà ngà say, ông này mới cầm chén rượu lén ra hành lang đứng nghỉ. Lúc ấy, có một tên lính lệ đang cơn thèm vội chạy đến cầu xin Di Xạ: “Xin ngài hãy cho tôi chút rượu thừa này đi”.  Di Xạ nổi nóng, nói hạng người như mày mà cũng dám xin rượu quan để uống. Tên lính im lặng lui ra. Đợi Di Xạ đi rồi, hắn quay trở lại chỗ cũ, đổ một ít nước vào nơi chân cột hành lang, làm như có người vừa tiểu tiện ra đó. Ít lâu sau Tề Vương đi qua chỗ đó, thấy vết nước ẩm nơi chân cột, rất bực bội hỏi rằng: ai mà dám tiểu tiện ra chỗ này? Tên lính đáp: Dạ, thần không được biết, có điều lúc nãy, trung đại phu Di Xạ có đứng ở đây một lúc. Trong cơn thịnh nộ, Tề Vương sai đem Di Xạ giết đi. Chỉ vì một vài giọt rượu, Di Xạ đã bị đứa tiểu nhân ám hại và bị chặt đầu.

      Tư tưởng ngăn lòng dục để định tướng, kỵ tính tham để lập quan trong công tác quản lý xí nghiệp cũng vô cùng thích hợp. Dục vọng của cá nhân như nhu cầu về ăn, mặc, ở, đi lại ai ai cũng có. Ai cũng muốn mặc quần áo đẹp, ăn thức ăn ngon, ở nhà đẹp, ngồi xe hơi đời mới, cho nên dục vọng của con người là vô cùng. Chúng ta không theo chủ nghĩa cấm dục vọng, nhưng chúng ta có thể khống chế dục vọng của mình ở mức độ nhất định, tức là mức độ mà quần chúng đông đảo có thể chấp nhận, thông cảm và lý giải được mà không có phản ứng. Nếu sản xuất của một nhà máy còn chưa mở mang, thậm chí thua lỗ, mà giám đốc chễm chệ ngồi xe hơi đời mới, ra vào nơi khách sạn hào hoa, như thế thì công nhân làm sao có thể quên mình làm việc cho nhà máy để chuyển lỗ thành lãi được. Giữa mùa hè nóng nực nếu lãnh đạo của nhà máy ngồi trong phòng máy lạnh, hút thuốc lá ngoại uống bia cao cấp mà nói thánh nói tướng, thì sao có thể trông mong công nhân tự nguyện đổ mồ hôi ra làm việc được? Cho nên, người quản lý ưu tú phải như tướng soái thông minh thời trước, khống chế một cách thích đáng dục vọng sinh hoạt cá nhân, để nó  không phát triển đến mức quần chúng xung quanh phản ứng.

      “Kỵ tính tham” đối với việc quản lý xí nghiệp, ý nghĩa càng lớn lao. Biết bao nhiêu xí nghiệp đã thất bại trong tay những người quản lý tham lam. Thí dụ tiền thưởng là một bộ phận quan trọng cấu thành khoản thu nhập của công nhân thời này. Nhiều xí nghiệp thực hành khoán sản phẩm nhiều cấp, tiền thưởng xác định theo tình hình hoàn thành định mức của các đơn vị nhận khoán. Thế là trong cùng một nhà máy, có phân xưởng tiền thưởng nhiều, có phân xưởng tiền thưởng ít. Lãnh đạo của nhà máy lĩnh tiền thưởng thế nào bỗng trở thành một vấn đề. Có nhà máy quy định lãnh đạo lĩnh số tiền thưởng với mức thấp nhất, cũng có nhà máy quy định lãnh đạo định mức thưởng cao nhất. Những nhà máy như thế, công nhân có ý kiến, nói lãnh đạo tham lam quá, kết quả của nó là đã phương hại nghiêm trọng đến tính tích cực trong sản xuất của công nhân.

      “Ngăn lòng dục, Kỵ tính tham” là một biện pháp đã làm là có hiệu quả trong hoạt động quân sự thời xưa. Trong quản lý xí nghiệp ngày nay cũng là một yêu cầu không thể thiếu được của người làm công tác quản lý.

 

Chiêu 70. Nhân từ với binh lính – ân đức cho mọi người.

       “Yêu mến binh lính là cái đạo làm tướng”; “hiểu biết binh lính, là cái gốc của thắng lợi”.

        Tôn Vũ có cái uy nghiêm dám giết ái cơ của Ngô Vương, nhưng cũng có tấm lòng quan tâm yêu mến binh lính của một người tướng. Ông từng chỉ ra rằng: Yêu mến binh lính như lòng yêu trẻ thơ, tức là có thể cùng chịu nguy nan; Yêu mến binh lính như yêu con mình, tức là có thể cùng sống chết với họ. Những nhà mưu lược quân sự thời xưa chú ý rộng rãi đến vấn đề quan tâm thể thiết với quân lính, liên hệ chặt chẽ vấn đề này một cách trực tiếp với sức chiến đấu của toàn quân. Bài “thượng lược” trong “tam lược” của Hoàng Thạch Công có nói: Cách làm tướng là phải nắm được con tim của anh hùng hào kiệt, phải đem bổng lộc thưởng cho người có công, để cho đông đảo binh lính thấy được tấm lòng tướng soái.Tướng lĩnh như thế, đối xử tốt với binh lính, không có chuyện gì mà không làm được, không có kẻ địch nào mà không đánh thắng.

        Trong “lục thao”, Khương Thái Công đặc biệt nhấn mạnh tư tưởng bình đẳng giữa tướng với quan. Ông nói: Làm tướng lĩnh không nên ỷ vào thân phận của mình mà coi khinh người khác; chớ nên cho rằng mình có ý nghĩ độc đáo mà xem thường ý kiến của mọi người. Chớ nên “cả vú lấp miệng em”, trong khi tranh cãi cái gì cũng cho mình là phải. Ăn, cũng đừng nên ăn trước. Bất kể trời rét hay trời nóng đều phải đồng cam cộng khổ với binh lính, như thế binh lính toàn quân sẽ bằng lòng phó thác sinh mạng cho người tướng như thế.

        Trong quản lý xí nghiệp hiện đại, những người lãnh đạo cũng nên như tướng soái ưu tú ngày xưa yêu mến binh lính của mình mà quan tâm thể thiết đến cán bộ công nhân viên cấp dưới. Trước hết, nên đối xử bình đẳng với họ, đừng bao giờ coi họ là người làm thuê, càng không được phép coi họ như là một thứ nô lệ chỉ biết cúi đầu làm việc mà nên coi họ như người đồng chí, người trợ thủ của mình. Với vấn đề này, ông chủ hãng Sony, một nhà doanh nghiệp Nhật Bản nói rất đúng: “Khi tôi nhìn thấy những người công nhân của mình đang đồng tâm hợp lực phấn đấu cho một mục tiêu, tôi không ngăn được sự cảm động”. Cho nên chính ông đã nêu ra tinh thần “chủ hãng bưng cho công nhân viên một chén trà”. Bởi vì ông từng cho rằng : “Chủ hãng không phải ở trên cao,mà là con người đứng sau lưng thợ để thúc đẩy họ”. Một khi chủ hãng đã có một tấm lòng ôn hòa và khiêm tốn như vậy sẽ có thể làm cho người công nhân đang mệt mỏi bỗng trở nên phấn chấn, từ đó mà nâng cao được hiệu suất công việc. Ông cũng từng nói “cho rằng nhân viên của công ty đông đảo như thế, không có cách nào mà biểu thị lòng cảm ơn đến từng người, nhưng chỉ cần đáy lòng mình cảm kích thì cho dù không cần nói, hành động cũng tự nhiên phơi bày ra và rồi nó sẽ được chuyển đạt tới tấm lòng từng công nhân”.

 

Chiêu 71. Vinh nhục cùng chung, một lòng một chí.

        Tôn Tử nói : “Đạo là cái làm cho dân chúng và vua có cùng một tấm lòng, có thể cùng chết, cũng có thể cùng chung sống mà không sợ bất kỳ sự nguy hiểm nào”.

        Trong “Hoàng Thạch công tam lược” cũng nói rõ: Chính trị của người hiền đức là trên hành động khiến ta phục tùng từ trong tâm. Khiến người ta phục tùng trên hành động, là để có một sự mở đầu, còn khiến người ta phục tùng từ trong tim thì lại có thể trọn vẹn từ đầu đến cuối”. Tư tưởng đó trong binh pháp cổ điển, có thể khái quát lại là phải làm cho binh lính và tướng lĩnh, dân chúng và lãnh đạo cùng chung vinh nhục đồng chí đồng lòng.

         Công tử Bào nước Tống mang hết tiền của mình phân phát cho dân chúng. Còn quy định người già 70 tuổi trở lên mỗi năm được phát bảy tấm lụa. Người nào có nghề trong tay đều được sắp xếp việc làm. Gặp năm đói kém mất mùa, lấy lương thục trong kho ra cứu tế cho dân chúng. Bà mẹ của ông thấy thế cũng mang tiền để giành ủng hộ cho ông. Dân chúng đều trông đợi công tử Bào lên làm vua. Thế là nhân dịp Tống Chiêu Công đi săn bắn xa, công tử Bào đã nổi dậy cướp ngôi. Vua nước Tần lúc đó đang là bá chủ, thấy việc lấy làm nghịch bèn đem quân chư hầu đánh nước Tống. Thế nhưng, thấy dân chúng nước Tống đều đứng về phía công tử Bào, không biết làm thế nào, đành thừa nhận công tử Bào là vua nước Tống.

          Làm xí nghiệp cũng cần có tinh thần trên dưới một lòng, cùng chung vinh nhục. Chủ hãng Sony của Nhật đã tổng kết ra nhiều kinh nghiệm quý báu và nêu ra nhiều câu danh ngôn chí lý. Ông chủ trương “Cởi mở tuột cái  áo ngoài của giám đốc”, cùng hòa mình với công nhân. Ông còn nói: “Người lãnh đạo thất bại tồi tệ nhất là khi công nhân nhìn thấy anh lại cắm cổ chạy mất tăm như đàn cá”.

              Đầu tháng 5 năm 1965, Hikashi Unu chính thức tái nhiệm chức Tổng giám đốc Công ty Ishikawa Shima – Banmôoa. Ông nhận chức vào đúng thời điểm nguy nan nhất. Ngày đầu tiên nhận chức, Hikashi Unu phát biểu: “Trên thế giới không có công ty nào không bao giờ khốn đốn, cũng không có một công ty thương mại nào tồn tại vĩnh viễn. Nếu muốn phục hồi, công ty đòi hỏi các công nhân viên phải bỏ ra công sức gấp mười lần trước”. Unu còn tuyên bố: “Cánh cửa phòng Tổng giám đốc luôn mở, bất cứ ai cũng có thể bàn bạc với Tổng giám đốc, bất cứ ai cũng có thể trực tiếp đề xuất hay kiến nghị mọi vấn đề với Tổng giám đốc”.

             Cũng chỉ vài ngày sau buổi phát biểu, lần đầu tiên các cán bộ nòng cốt của Tổng công ty hiểu thế nào là uy phong của vị Tổng giám đốc.

         Hôm đó, thư ký của Unu cùng giám đốc các công ty và các tổ trưởng phụ trách vào phòng Tổng giám đốc. Mọi người thấy nét mặt Unu rất nghiêm khắc, hai mắt nhìn như thôi miên:“Các vị, tôi mời các vị tập trung lại đây, chủ yếu là muốn bàn bạc với các vị một số phương pháp cải cách, mời các vị cho ý kiến”.

         Điều kỳ quái là trong phòng Tổng giám đốc, ngoại trừ bàn làm việc ra, không có lấy một cái ghế nào. Thậm chí cái ghế da có lưng dựa của Tổng giám đốc mà họ đã vốn quen thuộc cũng không thấy nữa. Mọi người rất ngạc nhiên với điều này.

         Hikashi Unu cao giọng: “Từ nay về sau, công ty phải họp đứng. Trong cuộc họp, tất cả những người tham gia đều phải phát biểu, không được nhường cho người khác. Người nào không phát biểu là không đủ tư cách tham dự cuộc họp. Người phát biểu phải nhẹ nhàng, không gay gắt nhưng phải có hiệu quả rõ rệt, không căn cứ vào thời gian dài ngắn, cho nên tôi đề nghị từ nay về sau họp đứng, mọi người đồng ý không?”

         Không ai trả lời, chỉ nghe thấy tiếng quạt chạy, nhưng ai cũng đợi người khác lên tiếng phản đối. Unu khẳng định: “Phương án cải cách cuộc họp của tôi cần phải được chấp hành!”.

          Hikashi Unu càng nói, càng giận, khuôn mặt và giọng nói thật đáng sợ. Ông chỉ trích một giám đốc : “Anh là người làm việc phải không? Không, anh là một ông hoàng, là một bức tượng mặc áo, là đồ lười chỉ biết há miệng chờ sung!”.

          Có thể Unu đã nói đúng tim đen của vị giám đốc nọ, hoặc ông ta run sợ trước thái độ giận dữ của Unu nên ông ta đã đứng như trời trồng. “Tôi muốn tiêu hủy hết những cung điện hưởng lạc của các anh. Ai có một hành vi lãng phí, tôi sẽ đuổi khỏi công ty. Mọi người hãy nhớ: từ mai trở đi, không có người chuyên làm thư ký cho bất cứ một giám đốc nào, chỉ có một thư ký làm việc chung. Các giám đốc phải làm việc tập trung trong phòng làm việc lớn, có bàn riêng. Bữa trưa không về nhà ăn được thì có người nấu cơm hoặc có thể ra ngoài tiệm ăn, nhưng không được phép đến chậm. Ở chức vụ phụ trách càng cao càng cần phải giản tiện trong mọi việc. Thế thôi, hôm nay tôi chỉ nói đến đây. Mọi người có thể về được rồi!”.

          Một trận sấm sét trút xuống ào ào khiến các giám đốc sợ đến đờ người. Ngoài hàng lang, một nhóm thư ký xếp thành hàng, ghé tai nghe cơn giận dữ vang ra từ bức tường phòng Tổng giám đốc. Tin tức về nội dung buổi họp được truyền đi khắp Tổng công ty. Sau lần chấn chỉnh đó, không khí làm việc trong tổng công ty đã sôi sục hẳn lên. Mọi người đều cho rằng Tổng giám đốc có thể thăng chức hoặc sa thải bất cứ ai.

       Sau nửa năm, bộ mặt của công ty đã thay đổi rõ rệt.

 

Chiêu 72. Chọn người nhậm thế - Dùng người không nghi ngờ.

      Tôn Vũ nói rằng : “Người giỏi tác chiến là ở chỗ biết làm rõ cái “thế” mà không gây khó cho người. Bởi vậy, có thể chọn người thích hợp để mà thích nghi với “thế”. Người thích nghi được với cái “thế” đó, chỉ huy binh tướng tác chiến, giống như chuyển động cây gỗ hay tảng đá. Đặc tính của gỗ là khi không có ngoại lực thì nằm im không chuyển động, nghiêng đi sẽ động và nếu vuông thì sẽ dừng lại, tròn thì sẽ lăn đi. Người giỏi chỉ huy tác chiến giống như người từ trên núi cao ném đá xuống, cái đó gọi là “thế”.

        Những lời nói đó bao hàm ba tầng ý nghĩa; Thứ nhất  là giải thích thế nào là “thế”. “Thế” ở đây vừa có ý là quy luật khách quan tự thân vốn có của sự vật, vừa có cái ý như “thế năng” mà ngày nay chúng ta vẫn học. Thứ hai là người “nhậm thế”, là chỉ con người nhiệm vụ khác nhau thì có biện pháp giải quyết khác nhau. Thứ ba là chọn người nhậm thế, là muốn nói ở cái “thế”  như thế nào thì mọi người như thế ấy, chọn những người khác nhau để thích nghi với cái “thế” khác nhau.

       Trương Lương (262 TCN-188 TCN), tự là  Tử Phòng, là danh thần khai quốc nổi tiếng thời nhà Hán. Ông cùng với Hàn TínTiêu Hà được người đời xưng tụng là "Hán triều Tam kiệt", đóng vai trò quan trọng giúp Lưu Bang đánh đổ nhà Tần và thắng Hạng Vũ trong chiến tranh Hán Sở sáng lập ra nhà Hán trong lịch sử Trung Quốc (phi tam kiệt tất vô Hán thất).

        Trương Lương thuộc dòng dõi sĩ tộc nước Hàn  thời Chiến Quốc. Tổ tiên nhiều đời làm khanh sĩ nước Hàn. Ông nội Trương Lương là Trương Khai Địa làm tướng quốc của Hàn Chiêu hầuHàn Tuyên Huệ vương, Hàn Tương Ai vương; cha ông là Trương Bình làm tướng quốc của Hàn Li VươngHàn Điệu Huệ vương.

        “Chọn người nhậm thế” nói nôm na là chọn dùng những nhân tài khác nhau đi hoàn thành nhiệm vụ khác nhau. Các tướng soái ngày xưa với vấn đề này đã vận dụng đến nơi đến chốn. Thí dụ Hán Cao Tổ Lưu Bang, dưới tay mình có ba nhân vật kiệt xuất: Trương Lương, Tiêu Hà, Hàn Tín. Trương Lương là một mưu thần, nghĩ sâu xa, cân nhắc kỹ càng, vận trù khéo léo, giỏi nêu mưu lạ…nhưng ông lại là một nhà hiền triết, trí tuệ có thừa nhưng nhiệt tình không đủ. Đặc điểm xử thế của ông là, Hán Vương Lưu Bang  có chủ động hỏi ông thì ông mới nói ra cách nhìn của mình, nếu không thì cho rằng trong lòng có cách nghĩ cũng rất ít nói ra. Một khi nói ra cách nghĩ của mình, có dùng hay không, ông không can dự. Còn Tiêu Hà là con người thành thực, nhiệt tình đáng tin cậy, dứt khoát trung thành với Lưu Bang, cất nhắc một người nào hoặc nêu ra một cái gì, chỉ cần có lợi cho nhà Hán, Lưu Bang không chấp nhận ông cũng cố nài nỉ cho đến khi nhận mới thôi. Thế nhưng ông này chẳng có tài năng gì đặc biệt kiệt xuất. Hàn Tín thì mưu dũng kiêm toàn, cái gì cũng có thể thấu suốt ba quân, mưu của ông có thể bày ra kế lạ, cầm quân tác chiến đánh đâu thắng đấy. Nhưng cái tật lớn nhất của con người này là hay kiêu ngạo, ai cũng có thể xem thường (kể cả Lưu Bang). Ba nhân vật này mỗi người đều có mặt giỏi mặt hay, song mỗi người cũng đều có dở. Nếu dùng những cái dở của họ, họ không những chẳng trở nên nhân vật kiệt xuất, thậm chí còn không bằng cả người bình thường. Thí dụ nếu để Trương Lương ra mặt để đâm chém, ông ta không bằng một tên lính khỏe. Cũng như vậy, nếu để Hàn Tín ở bên cạnh Lưu Bang bày mưu tính kế, có thể không biết lúc nào đó ông ta sẽ giết cả Lưu Bang để thay mình vào đó. Tuy nhiên, là một hào kiệt, Lưu Bang có năng lực “chọn người nhậm thế” căn cứ nhân tài khác nhau sắp xếp nhiệm vụ khác nhau, dựa vào nhiệm vụ khác nhau để chọn dùng nhân tài thích hợp. Ông để Trương Lương làm mưu thần, đi theo tả hữu; để Tiêu Hà quản lý việc hậu cần, lo chuẩn bị lương thảo và cuối cùng dùng Hàn Tín cầm quân đánh giặc. Kết quả là Trương Lương đã tính toán đâu ra đấy, mỗi lần nguy nan đều tìm ra mưu kế, đảm bảo cho Lưu Bang có quyết sách chuẩn xác; Tiêu Hà lo lương thảo; đảm bảo về hậu cần, chưa bao giờ chậm trễ; Hàn Tín cầm quân đánh xa đánh gần, đánh đâu thắng đấy. Do ba người này đều có công nổi bật nên được coi là nhân vật kiệt xuất nhất xác lập nên chính quyền nhà Hán.

       “Chọn người nhậm thế” là một môn học uyên thâm. Nếu muốn làm thống soái thì phải mày mò suy nghĩ từ trong thực tiễn. Người thông minh đến mấy cũng có lúc chọn nhầm người . Ví dụ, Gia Cát Lượng là một nhà mưu lược quân sự nổi tiếng nhất trong lịch sử, khi lần đầu tiên ra khỏi Kỳ Sơn đánh Tào Ngụy đã dùng nhầm tướng lĩnh. Nhai Đình là nơi đất chiến lược hiểm yếu để ra vào đất Thục. Người ta cho rằng nơi này nên cử người có kinh nghiệm chiến tranh như Ngụy Diên chẳng hạn trấn giữ, nhưng Gia Cát Lượng không nghe thế, đã cử cái con người chỉ biết ba hoa khoác lác, không có một chút kinh nghiệm chiến tranh nào là Mã Tốc đi trấn giữ Nhai Đình. Kết quả dẫn đến sự thất thủ Nhai Đình, ảnh hưởng chung toàn cục, khiến quân Thục bất đắc dĩ phải bỏ ba quận ở Lũng Tay,rút chạy về Hán Trung.

        Liên hệ chặt chẽ với “chọn người nhậm thế” là “dùng người không nghi ngờ”. Cái đạo của việc dùng người chẳng thà là hạn chế chọn người song không thể chọn rồi mà không tin”.  Chọn đúng một người không dễ, tin tưởng đối với người đã chọn cũng không dễ nữa. Lưu Bang được coi là “minh chúa” thời xưa, nhưng khi dùng Trần Bình cũng từng xảy ra sự nghi hoặc. Lưu Bang đang khao khát cầu hiền, qua sự tiến cử của Ngụy Vô Tri tìm được Trần Bình. Hai người bàn về việc lớn của quốc gia rất ăn ý, quan điểm giống nhau. Lưu Bang cho rằng  đã tìm được nhân tài, cho nên đã lệnh cho làm “đô úy”. Nhiều tướng lĩnh trong quân đội nhà Hán xôn xao bàn tán, nói con người ấy phẩm chất xấu xa, đã từng tham ô vàng bạc, lại thông dâm với chị dâu. Những dư luận đó vốn chẳng có gì là căn cứ. Bán tán nhiều nên Lưu Bang cũng thấy xuôi tai, bèn trách móc Ngụy Vô Tri. Ngụy Vô Tri cũng chẳng biết Trần Bình có những tật xấu ấy không, nhưng quả thực thấu hiểu ông ta là một người tài, bèn trả lời thẳng vào vấn đề : “Cái mà thần muốn nói tới là tài năng con người, chúa công lại hỏi phẩm hạnh người ta. Nay nếu có người tin, một con người giữ chữ tín, lại hiếu trung nhưng không quyết định được sự thắng bại của chiến tranh, thì liệu có ích gì cho chúa công? Hiện nay Sở, Hán đang tranh giành thiên hạ, thần tiến cử một con người có tài năng đặc biệt, chúa công chỉ cần cân nhắc mưu kế của ông ta đối với quốc gia có lợi hay không? Còn chuyện ông ta có tham ô và tư thông với chị dâu hay không, chúa công biết làm gì?

       Lưu Bang rốt cục vẫn là Lưu Bang, nghe những lời khuyên đó, lại có một cuộc bàn bạc rất lâu với Trần Bình, và không sa vào chuyện“tham ô, hủ hóa” kia nữa mà càng tín nhiệm và trọng dụng Trần Bình.

       Đối với xí nghiệp mà nói, việc chọn người và dùng người là mấu chốt thành bại của sự nghiệp. Tháng 10 năm 1978, tổng giám đốc công ty xe hơi Ford của Mỹ bị hội đồng quản trị thôi việc. Ông này đã làm việc ở hãng Ford 32 năm nay, tuổi đã đầy 54.Với tuổi tác ấy lại bị thôi việc, tài năng và biểu hiện đó không tránh khỏi bị người ta hoài nghi. Vậy mà các ủy viên hội đồng quản trị của hãng xe hơi Chrysler lại mời ông này sang làm tổng giám đốc. Các ông chủ của hãng ô tô đang có nguy cơ phá sản này đã có tầm mắt tinh tường, biết ông là bậc thiên tài. Và tương ứng, nguyên tổng giám đốc hãng xe Ford cũng là con người tắm mưa gội gió trong ngành chế tạo xe hơi. Chỉ trong mấy năm ngắn ngủi, ông đã đưa hãng Chrysler từ cõi chết trở vềThí dụ này đủ nói lên sự quan trọng của viêc “chọn người”, dùng người của giới doanh  nghiệp, đồng thời cũng nói rõ nhân tài là mấu chốt của việc phát đạt hay suy thoái của một xí nghiệp.

       “Ngọc còn có vết, người sao tròn nết”. Làm xí nghiệp phải chọn dùng nhân tài thích hợp. Nhân tài vừa có chuyên tài, vừa có toàn tài. Chuyên tài thì nhiều chứ toàn tài thì quả là hiếm. Một con người có một mặt nào đó “Chuyên” và có năng lực là có thể dùng được, không thể cầu toàn. Phương thức lý tưởng trong việc chọn người rất khó chọn được nhân tài vừa ý. Tuy nhiên, đã là  “chọn mặt gửi vàng”, cái mình dùng là mặt chuyên, mặt giỏi của người ta, chỉ cần anh ta phát huy được cái giỏi giang ấy, có đóng góp với xí nghiệp, những mặt khác hà tất phải đi moi móc hoặc trách cứ làm gì.

 

 

Chiêu 73. Phải trái rõ ràng  -  Phò chính chống tà.

      Trị nước, trị quân và quản lý doanh nghiệp đều yêu cầu người lãnh đạo giữ vững nguyên tắc, phải trái rõ ràng. Không có nguyên tắc, vua mà ù ù cạc cạc thì sẽ mất nước; tướng soái mà không phân phải trái, vô thưởng vô phạt thì sẽ loạn quân. Đó là những nội dung quan trọng mà binh pháp luôn luôn nhấn mạnh.

       Trong “Hoàng Thạch công tam lược – thượng lược” có viết rằng: Người có phẩm hạnh tốt mà không được dùng, người phẩm hạnh xấu xa lại được trọng dụng, như thế thì những người tài đức song toàn sẽ lẩn tránh hết, người phẩm hạnh xấu xa sẽ nắm quyền hành. Trong tình hình ấy, quốc gia sẽ bị nguy hại.

       Câu chuyện Tây Môn Báo trị Nghiệp Thành tương đối điển hình nói lên tầm quan trọng của người lãnh đạo có tầm nhìn sáng suốt luôn giữ được nguyên tắc, phải trái rạch ròi. Tây Môn Báo người nước Ngụy, thời chiến quốc làm thống soái ở một nơi gọi là Nghiệp Thành, là một con người thanh liêm, yêu mến muôn dân, căm ghét bọn gian ác, cho nên đã cai quản Nghiệp Thành rất tốt đẹp. Thế nhưng Tây Môn Báo lại không thèm đếm xỉa gì đến bọn cận thần ở bên cạnh vua.Thế là bọn người này câu kết với nhau mưu hại Tây Môn Báo.

        Một năm sau Tây Môn Báo trình lên Ngụy Vân Hầu văn sớ về tình hình công việc. Thế nhưng lời lẽ trình bày và phần tài vụ bị bọn cận thần bóp méo hoặc sửa đổi đi. Sau khi xem xong Ngụy Vân Hầu tức giận, bèn thu hết ấn tín và cách chức Tây Môn Báo. Sau khi về Triều, Tây Môn Báo đã hết lời kêu xin Ngụy Vân Hầu: Trước đây thần không hiểu trị Nghiệp Thành phải thế nào. Nay thần đã hiểu xin đại vương cho thần một dịp này, nếu còn không làm tốt việc cai trị, xin đại vương cứ chặt đầu thần đi”.

        Thấy Tây Môn Báo có thái độ thành khẩn, Ngụy Vân Hầu đã đáp ứng lời kêu xin, cho Tây Môn Báo lại quay về cai trị Nghiệp Thành. Tây Môn Báo quay lại Nghiệp Thành rồi, lập tức tăng mức thuế, dùng số tiền hối lộ bọn cận thần ở gần vua, dùng tiền bạc mua chuộc lời nói hay của họ.

        Lại một năm nữa qua đi, Tây Môn Báo theo thường lệ gửi sớ báo về nêu công trạng với Vân Hầu. Lần này thì được bọn cận thần ra công tô vẽ, Vân Hầu nghe những lời đẹp đẽ ấy, cũng tán dương Tây Môn Báo.

        Khi Tây Môn Báo ngồi nói chuyện riêng với một mình Ngụy Vân Hầu đã thổ lộ:

        Trước đây, thần vì đại vương cai trị Nghiệp Thành, đại vương thu ấn tín, bãi chức của thần. Ngày nay, thần cai trị Nghiệp Thành vì bọn cận thần xung quanh đại vương, thì lại được đại vương hết lời tán dương. Thần thật không hiểu đó là lời lẽ làm sao, thì thôi xin từ chức cho xong.

        Ngụy Vân Hầu cũng còn là người trong sáng, Nghe chuyện của Tây Môn Báo, nghĩ đi, nghĩ lại cuối cùng mới sực tỉnh bèn cho cách chức, thuyên chuyển hết bọn cận thần và yêu cầu Tây Môn Báo lại về Nghiệp Thành nhận chức. Những năm sau đó, do quan chức thanh liêm, biện pháp hiền minh, nước Ngụy luôn luôn vững vàng. Ngược lại, các nước khác gần đó lại luôn luôn loạn lạc.

       Trong quản lý xí nghiệp cũng tồn tại vấn đề nguyên tắc về đúng sai, phải trái. Làm người phụ trách chính trong một xí nghiệp, nếu phải trái không phân biệt thì nguyên tắc sẽ mất hiệu lực. Đơn vị nào đã không phân biệt được phải trái, lại không giữ vững nguyên tắc, thì không khẳng định là chân chính, không áp đảo được gian tà. Trong một đơn vị mà gian tà không được ngăn chặn, chính nghĩa và nguyên tắc không được ủng hộ, thì tất yếu người làm việc sẽ ít, người quấy rối thì nhiều. Cho nên, người cán bộ quản lý xí nghiệp có giữ nguyên tắc hay không, có phải trái rạch ròi hay không, có dám phò chính chống ta hay không….đều trực tiếp quan hệ đến tiến đồ và vận mệnh của xí nghiệp …Trong giới doanh nghiệp nước ta, cái trói buộc quấy nhiễu lớn nhất đối với người lãnh đạo là “quan hệ phức tạp của con người trong giao tiếp”. Nhiều người quản lý các doanh nghiệp không phải không biết nguyên tắc hiệu quả là trên hết, cũng không phải không biết phân biệt đúng sai, nhưng lại gặp lực cản của “quan hệ con người”, khó mà làm được việc “phò chính chống tà”. Ví dụ, một người nhà của vị cấp cao nào đó của mình vi phạm nội quy; con cái những người trực tiếp lãnh đạo làm ảnh hưởng đến sản xuất; Vợ một ông đứng đầu của đơn vị quan hệ với mình phạm vô nguyên tắc của nhà máy … nếu không xử lý rõ ràng sẽ bị công nhân căm ghét, ảnh hưởng  tính tích cực trong sản xuất, khiến lợi ích của nhà máy bị tổn thất. Ngược lại nếu xử lý theo nguyên tắc, sẽ có thể ảnh hưởng đến cái “ghế” đang ngồi. Gặp trường hợp này, người lãnh đạo phải cần có một chút ma lực.

 

Chiêu 74. Phạt không trừ người thân – Thưởng không quên người thù.

  Phạt và thưởng là hai cái đòn bẩy quan trọng để huy động tính tích cực của cấp dưới. Vận dụng thỏa đáng, sẽ huy động được tính tích cực của mọi người. Ngay từ thời kỳ nhà Chu dựng nước, nhà mưu lược quân sự lỗi lac Lữ Thượng (Khương Thái Công) cũng đã hiểu được điều này: Một lần Châu Vũ Vương hỏi:“Ta muốn nhẹ về phạt mà nặng về đe răn; thưởng ít mà khuyên điều thiện nhiều, điều nào có thể làm được”. Lữ Thượng trả lời “giết một người làm cho ngàn người sợ, giết hai người vạn người sợ, giết ba người mới ổn được ba quân, phải giết…Thưởng một người ngàn người vui, thưởng hai người vạn người vui, thưởng ba người ba quân vui, phải thưởng”. Châu Vũ Vương nghe ra và thấm thía luôn luôn thận trọng trong việc thưởng phạt, làm cho chính trị triều nhà Chu vô cùng trong sáng. Mới hay thưởng phạt vận dụng tốt hay không quan hệ đến đất nước thế nào huống chi là trong quân đội và xây dựng kinh tế ?

       Thế nào mới gọi là vận dụng thưởng phạt thỏa đáng? Nhân tố xung quanh vấn đề này có nhiều, nhưng trong đó nhân tố quan trọng nhất là đối xử với hai loại người  “thân” và “thù”?. Nói “phạt không trừ người thân” là dù người thân của mình có phạm sai lầm, khuyết điểm thì cũng phải đối xử như những người khác. Nhà quân sự lỗi lạc Gia Cát Lượng về vấn đề này đã nêu cho hậu thế một tấm gương sáng. Đó là năm 228, lần đầu tiên xuất quân lên phía Bắc chinh phạt Tào Ngụy, Gia Cát Lượng mới ra quân đã giành thắng lợi. Chỉ có điều đáng tiếc là dùng người chưa thỏa đáng, để Mã Tốc cầm quân, dẫn đến việc thất thủ thành Nhai Đình, làm rối loạn cả kế hoạch chung, làm cho cuộc viễn chinh này trở thành mệt sức mà không có công. Mã Tốc là một người tài Gia Cát Lượng rất yêu mến. Nhưng theo kỷ luật quân đội, kẻ chiến bại phải bị xử tử, cho nên, Gia Cát Lượng đành “Gạt nước mắt chém Mã Tốc”. Đồng thời do bản thân dùng người không thỏa đáng, cần phải truy cứu trách nhiệm. Cho nên, với tư cách là thừa tướng, nhưng Gia Cát Lượng cũng tự phạt mình bằng cách giáng xuống ba cấp. Từ đó mà tiếng tăm ông càng lừng lẫy và được quần chúng yêu mến, ủng hộ.

        “Thưởng không quên người thù” là chỉ khi binh công phát thưởng, không nên để sót người có oán thù riêng với mình. Là người lãnh đạo, khó có thể tránh khỏi trong quan hệ cá nhân xuất hiện một vài người có thù oán hoặc có ác cảm, có ý kiến bất hòa … Cho rằng có những người như thế đi nữa thì khi họ có công lao, có đóng góp nhất định cũng nên khen thưởng hoặc hơn thế, cần phải khen thưởng. Làm được như thế, là một người lãnh đạo hoặc tướng soái, mới có thể hợp lòng dân. Thí dụ, nhà Tây Hán ở thời kỳ dựng nước, Lưu Bang một lúc phong thần cho hơn hai chục người. Những người còn lại, ngày đêm tranh công, bàn tán xôn xao. Có một số người túm năm tụm ba, thì thào bàn chuyện riêng, tiềm ẩn một nhân tố không ổn định rất lớn. Lưu Bang hỏi Trương Lương về cách giải quyết. Trương Lương hỏi: Người mà hàng ngày bệ hạ không 

        ưa nhất mà mọi người ai cũng biết là ai? Lưu Bang nói: “Ung Xỉ là người vốn có hiềm khích cũ với ta, sau ngày khởi sự lại từng phản lại nhà Hán, đầu hàng nhà Ngụy, và cũng nhiều lần nói xấu ta. Từ lâu ta đã muốn giết quách hắn ta đi, chỉ vì công lao của hắn ta nhiều quá, ta không thể nhẫn tâm ra tay”. Trương Lương nói tiếp: “Thế thì phong chức quan cho ông ta ngay”. Lưu Bang nghe theo lời khuyên đó phong cho Ung Xỉ là thập phương hầu. Quần thần thấy vậy, ai nấy đều mừng và bàn tán với nhau: “Đến như Ung Xỉ mà còn được phong hầu, thì chúng ta càng chẳng có gì mà phải lo lắng nữa”. Việc làm ấy chẳng những uốn nắn cho Lưu Bang về cách dùng người theo tình thân và sự lệch lạc khi bình thưởng…mà còn dẹp đi một trận sóng gió về chính trị có thể xảy ra.

        Trị nước cầm quân như thế, điều hành xí nghiệp lại càng như thế. Chẳng những phải thưởng phạt nghiêm khắc mà còn phải thưởng phạt rõ ràng. Phải làm được như Gia Cát Lượng : “Người tận trung tận nghĩa, dù có hiềm thù thì vẫn thưởng; kẻ phạm pháp, sai lầm dù người thân cũng phạt”. Vấn đề thưởng phạt giải quyết không công bằng, dễ phương hại đến tính tích cực của cán bộ công nhân viên nhất.

 

Chiêu 75.  Phạt không kéo dài – Thưởng đừng chậm trễ.

         Phạt không kéo dài có nghĩa là thi hành hình phạt phải làm ngay tại chỗ để đông đảo quần chúng hoặc quân sĩ nhìn thấy cái hại của việc làm xằng bậy.

         Các tướng lính quân sự thời xưa của Trung Quốc đều lấy việc trừng phạt để ra oai và tăng cường kỷ luật, cho nên thường chủ trương xử ngay trước mặt. Sử dụng nguyên tắc phạt này nghiêm minh nhất, xác đáng nhất phải kể đến Tôn Vũ đã chấp hành quân pháp nghiêm chỉnh như thế nào.

        Năm 512 trước Công Nguyên, sau khi Hạp Lư nước Ngô giành được ngôi vua, luôn luôn muốn xây dựng nghiệp bá, bởi vậy mới để người tiến cử tướng tài, biết việc quân, giỏi mưu lược. Ngũ Tử Tư đã tiến cử Tôn Vũ cho Ngô Vương. Sau khi Tôn Vũ gặp mặt Ngô Vương, trước hết là dâng lên 13 bài binh pháp của ông. Ngô Vương sau khi xem xong binh pháp, rất khâm phục tài hoa của ông, nhưng không biết những lý luận đó có thể dùng được không, cho nên Ngô Vương yêu cầu ông thao diễn thử một lần, mà lại dùng phụ nữ có trong cung để diễn tập. Tôn Vũ trả lời rằng có thể được! Thế là Ngô Vương chọn từ trong cung ra 180 cung nữ giao cho Tôn Vũ để  diễn binh. Tôn Vũ chia cung nữ làm hai đội, dùng hai người ái cơ của Ngô Vương làm đội trưởng. Tôn Vũ tuyên bố kỷ luật: Việc quân lữ, phải nghiêm hiệu lệnh, sau nữa là thực hành thưởng phạt. Hôm nay tuy là thao luyện nhưng cần phải nghiêm túc, đến nơi đến chốn, đội ngũ quay bên phải, nghe hai tiếng trống, nghe ba tiếng trống hai bên nhấc kiếm ở tư thế chiến đấu. Nghe thấy tiếng chiêng toàn đội kiểm số và lui về. Các cung nữ nghe xong đều cảm thấy buồn cười, bèn bịt miệng rúc rích. Chờ khi nổi trống, cả đội trưởng và cung nữ đều cười rúc rích, hàng ngũ nhấp nhô lộn xộn. Tôn Vũ lập tức dừng thao luyện nói với mọi người: “Yêu cầu không rõ ràng, hiệu lệnh không thuộc, lỗi là do tướng”. Thế là nhắc lại yêu cầu, giảng giải về hiệu lệnh, nêu lại về  kỷ luật. Khi phát hiệu lệnh diễn tập lần nữa, đội ngũ vẫn còn nhấp nhô không ngay ngắn, tiếng cười vẫn không ngớt. Tôn Vũ tức giận nói: Giao hẹn không rõ ràng hiệu lệnh không thuộc, đó là tội của tướng. Nay đã giao hẹn mấy lần mà binh sĩ không làm theo đó là tội của binh lính. Thế là ra lệnh chém đầu hai đội trưởng tại chỗ. Ngô Vương từ trên khán đài thấy tình hình đó, vội vã thất kinh vội cho người gặp Tôn Vũ xin tha. Nhưng Tôn Vũ lại nói “Trong quân ngũ không nói chuyện đùa!”. Nói xong ra lệnh chém ngay hai đội trưởng. Sau đó, truyền lại quân lệnh, lúc này đội ngũ mới chỉnh tề, tiến thoái theo lệnh, động tác đều đặn từ đầu đến cuối, không có tiếng xì xèo. Sau khi thao luyện Tôn Vũ sai người báo cáo Ngô Vương rằng đội ngũ đã luyện xong, bây giờ dù có xông vào nước sôi lửa bỏng cũng không dám thoái lui, xin mời đại vương kiểm duyệt. Chuyện này nói lên cái uy lực trọng yếu của việc “phạt không lề mề”.

        “Thưởng đừng chậm trễ” tức là khen thưởng phải kịp thời. Đối với người có công phải thưởng ngay tức thời, không nên kéo dài, thời gian sẽ mất đi tác dụng cổ vũ. Khen thưởng kịp thời là để cho dân chúng và quân sĩ kịp thời thấy được lợi ích của việc làm tốt. Tôn Tẫn còn yêu cầu: thưởng phải trong ngày, phạt phải ngay trước mặt.

         Trong lịch sử, Tào Tháo là người rất biết nắm thời cơ để khen thưởng. Có lúc thưởng ngay trước mặt để khích lệ chí khí chiến đấu, có lúc xong chuyện mới thưởng để khuyến khích người ta suy nghĩ sâu xa. Thí dụ, năm 207, Táo Tháo chuẩn bị Bắc phạt Ô Hoàn và Liêu Đông, có một số tướng lĩnh phản đối cho rằng quân vào đơn lẻ, thiếu điều kiện để thắng địch. Nhưng Tào Tháo không áp dụng đề nghị đó, tự đem quân đi đánh. Dọc đường vì có kẻ địch đặt bẫy, lại gặp ngày mưa liên miên, đường đi lầy lội, đành phải quay sang đường khác. Lại vì thiếu lương ăn nước uống đành phải giết mấy ngàn con ngựa ăn trừ bữa, sau đó lại bị quân chủ lực của địch công kích, tình hình vô cùng nguy kịch. Do có tài thao lược, Tào Tháo vẫn xoay chuyển tình thế, giành thắng lợi cuối cùng. Khi mở hội mừng công, Tào Tháo hỏi: Trước giờ xuất phát ai can ta không nên Bắc phạt? Các tướng lĩnh đã can ngăn vội quỳ mọp xuống chịu tội. Tào Tháo chẳng những không trị tội mà còn trọng thưởng họ, nói: ý kiến của mọi người là đúng. Lần này thắng trận chỉ là ăn may mà thôi. Nhìn vào cục diện chung, chỉ một chút nữa là toàn quân bị diệt.

        Ngô Khởi là nhà quân sự lỗi lạc thời Chiến quốc cũng đã kịp thời và còn lợi dụng sự khen thưởng để liên hệ tướng sĩ. Theo sử sách ghi chép lại, sau mỗi lần chiến thắng, ông đều xin Ngụy Vũ Hầu cho mở tiệc tại cung đình. Người có công lớn ngồi hàng trước, món ăn đặc biệt. Loại thứ hai ngồi hàng giữa, đồ dùng kém hơn một cấp. Người không có công ngồi ở hàng sau, không có đồ dùng quý trọng. Ngoài ra, còn thưởng cho người có công được mang bố mẹ vợ con, để cho họ được người trong làng quý trọng. Kết quả của việc làm đó là đã cổ vũ mạnh mẽ người nước Ngụy tích cực chiến đấu. Nếu có chiến sự, không đợi nhà nước kêu gọi, đã có hàng vạn người khoác áo giáp mang vũ khí xông ra.

        Trong quản lý xí nghiệp, phạt và thưởng là hai thứ công cụ quan trọng. Tác dụng của nó là ngăn chặn những thói xấu của mọi người. Bởi vậy, xử phạt  nhất thiết phải công khai, phải làm ngay trước mặt. Xử phạt một cách giấm dúi, không có tác dụng“giết một người, răn trăm người”; Tác dụng của thưởng là khuyến khích cái tiến bộ, khích lệ tính tích cực sản xuất ở mỗi người, nó có tính thời hiệu rất mạnh. Chỉ có khen thướng một cách xác đáng, kịp thời mới có thể phát huy tốt được tác dụng của khen thưởng.

 

Chiêu 76. Phô cái mạnh tránh cái yếu, tùy mặt mạnh mà xếp việc.

        Trong lĩnh vực quân sự, mỗi một thực thể đều có cái ưu thế hay cái sở trường đồng thời cũng có mặt yếu hay là cái ta gọi là sở đoản. Cho nên trong lý luận quân sự có một nguyên tắc thông thường, đó là  phát huy cái sở trường để chống lại cái sở đoản, tránh thực, đánh hư. Giải thích bằng từ ngữ thông thường là lấy mặt mạnh của mình mà chống lại mặt yếu của địch. Thí dụ anh em họ Nguyễn trong chuyện Thủy Hử là những anh hùng trên sông nước. Nếu ở trên cạn mà đấu nhau bằng quả đấm hoặc côn đao, ba anh em họ cộng lại cũng không địch nổi Lý Quỳ. Thế nhưng nếu họ dụ được Lý Quỳ xuống nước thì bất cứ người nào trong ba anh em họ cũng có thể vờn Lý Quỳ như vờn gà con. Đó gọi là “phát huy mặt sở trường, tránh mặt sở đoản”.

        Trong hoạt động kinh tế, mỗi xí nghiệp đều có mặt mạnh và ưu thế của mình. Làm quản lý xí nghiệp giống như cầm quân đánh giặc, phải biết mình mới tìm ra ưu thế.

         Một xí nghiệp gia đình quân đội của cục X là một xí nghiệp tập thể hơn 100 người, công nhân viên chủ yếu là gia đình cán bộ đi theo đơn vị. Trong khoảng giữa thập niên 80 khi sản phẩm điện là thứ hàng đầu vị, xưởng này được xây dựng và nhằm trúng vào sản phẩm quạt điện. Mặc dù quân đội đã cử đến nhiều cán bộ kỹ thuật và cán bộ quản lý đáng tin cậy, nhưng hiệu suất lao động thấp, tỷ lệ  sản phẩm xấu quá cao, trình độ công nghệ thấp, cuối cùng đến mức độ lương không đủ mà cấp.

          Khi xí nghiệp đang ở bước sắp phải đóng cửa, lãnh đạo xí nghiệp sau khi nghiên cứu đã thấy rằng trình độ văn hóa của công nhân quá thấp, khả năng tiếp thu lại kém, cho nên căn bản không thích hợp làm sản phẩm ngành điện. Vậy thì công nhân của xí nghiệp này có mặt nào là “sở trường” không? Qua phân tích, họ cũng phát hiện thấy công nhân của xí nghiệp phần lớn đều từ nông thôn ra, có sức khỏe tốt, có tinh thần chịu khó chịu khổ, chỉ cần có việc làm, khổ đến đâu, mệt đến đâu họ cũng không hề kêu ca. Lãnh đạo xí nghiệp quyết định chuyển sang thành xí nghiệp sản xuất thực phẩm và đồ uống, Vi khu vực này thời gian nóng nực dài, nhu cầu về đồ uống rất lớn. Thế là xí nghiệp này, chịu đau mà vứt bỏ thiết bị sản phẩm quạt điện, đầu tư cả tỷ đồng để làm kho lạnh và thiết bị cấp đông. Do nhu cầu về đồ uống lớn nên đơn đặt hàng cũng nhiều cho nên ngay trong thời kỳ nóng nực gần 40 độ vẫn đòi hỏi công nhân ngày đêm thay ca sản xuất. Trong điều kiện khí hậu khắc nghiệt như vậy, công nhân ở đây vẫn vô cùng hăng hái, không ai kêu khổ, không ai xin nghỉ ốm. Họ còn nói:“Càng nhiều việc làm càng mừng”. Kết quả là chỉ có một mùa hè toàn xưởng đã thu về toàn bộ vốn đầu tư. Đấy là một thí dụ hết sức thành công của việc “tùy mặt mạnh mà xếp việc”.

        Một thí dụ khác là xưởng gia công đồ gỗ ở huyện nọ. Trong cuộc cạnh tranh kịch liệt ở thị trường, do giá vật liệu cao, hiệu suất lao động thấp và những nguyên nhân khác, làm cho xí nghiệp lâm vào cảnh sắp tan vỡ. Lúc ấy, một quản đốc phân xưởng sáng suốt đã đứng ra nhận thầu xí nghiệp. Ông ta biết rằng, xí nghiệp không thể có được khoản đầu tư lớn để đổi mới thiết bị và cũng không thể mua được vật liệu theo giá chỉ đạo, đấy là sở đoản của xí nghiệp. Thế nhưng thợ mộc ở đây ai cũng có tay nghề cao đã làm mấy chục năm trong nghề. Ai cũng đều có “bí quyết tay nghề. Ông đã quy tụ những tài hoa đó và đầu tư sản xuất “đồ dùng gia đình giả cổ”Do thứ sản phẩm này độc đáo không đâu sản xuất nên đã nhanh chóng chiếm đầu trên thị trường. Sau này những sản phẩm đó lại được xuất sang thị trường Âu Mỹ, mỗi năm đem lại cho nhà nước hàng triệu đồng ngoại tệ .Đó cũng là một thí dụ hết sức thành công về “tùy mặt mạnh mà xếp việc”.

       Vấn đề này thực ra không phải là một nguyên tắc gì phức tạp, mà chỉ là điều thường thức trong quá trình sản xuất kinh doanh, nên với một nông dân bình thường cũng có thể hiểu được. Thí dụ này nói lên rằng bất cứ người nào cũng đều có sở trường của mình, chỉ cận động não là có thể tìm thấy.

 

Chiêu 77. Phải lấy nghĩa mà chiến đấu – Lấy niềm tin

thu phục mọi người.

       Khương Thái Công trong “lục thao – long thao” chỉ ra rằng :chiến đấu tất phải lấy nghĩa, cho nên khích lệ được mọi người chiến thắng địch”. “Nghĩa” ở đây hàm ý rất rộng và phong phú, nó bao gồm nội dung chính nghĩa”, “tín nghĩa”, “đạo nghĩa”. Nói nghĩa chỉ là thứ thủ đoạn, mục đích là ở chỗ khích lệ tướng sĩ của mình để chiến thắng kẻ thù.

      Tấn Văn Công Trùng Nhĩ ở thời Xuân Thu là điển hình về con người nói đến “tín” và “nghĩa”. Theo sử sách, khi Tấn Văn Công đi đánh một nơi gọi là “Nguyên”, chỉ mang theo có 10 ngày lương thảo. Ông và tướng sĩ ước tính trong vòng 10 ngày là có thể đánh được nơi này. Thế nhưng đến ngày thứ 10 còn chưa đánh được, vậy là Văn Công báo hiệu thu quân . Có người chạy trốn từ trong thành ra và nói rằng những người trong thành đó chỉ ba ngày nữa là ra hàng. Các đại thần xung quanh cũng khuyên Văn Công rằng: Trong thành có lẽ lương hết lực kiệt rồi, chỉ cần vây hãm vài hôm nữa là có thể phá được .Vậy nhưng, Tấn Văn Công vẫn kiên quyết trả lời rằng: Ta đã hẹn chắc cùng với tướng sĩ, chiến đấu ở đây 10 ngày. Nay đã đến hạn 10 ngày, nếu không lui quân, ta sẽ mất lòng tin vói tướng sĩ. Việc đó ta sẽ không làm, bởi vì để lấy được đất này ta sẽ trở thành người thất tín. Căn cứ vào lệnh của Văn Công, quân nước Tấn rút về. Nhân dân ở vùng này nghe tin bèn nói: Tấn Văn Công đã giữ lòng tín như thế tại sao chúng ta không quy phục? Thế là ào ào kéo ra hàng nước Tấn. Sau khi nước Vệ nghe được tin này cũng cho rằng: Văn Công trọng tín nghĩa như thế, không theo ông ta còn theo ai nữa ? Thế là cũng thần phục luôn nước Tấn.Đó là những sự thực về trọng tín nghĩa trong lịch sử.

      Lịch sử cũng lại có chuyện chẳng nói “tín” mà cũng không nói “nghĩa”, mà những chuyện thế này cũng rất nhiều. Bạch Khởi giết hàng binh nước Triệu là một trong những chuyện đó. Nước Tấn và nước Triệu trong trận quyết chiến ở Trường Bình.Vì chủ tướng Triệu Quát của nước Triệu cầm quân bất lợi, bị bao vây hoàn toàn, bản thân trong lúc phá vây bị quân Tấn bắn chết. Bốn mươi vạn quân bị bao vây của nước Triệu, trong hết lương ăn, ngoài không có quân cứu viện. Thế là chủ tướng của nước Tấn là Bạch Khởi khuyên họ ra hàng và đồng ý với tướng của nước Triệu, đầu hàng xong là không việc gì. Kết quả quân Triệu lần lượt bỏ giáo ra hàng. Bạch Khởi sau khi tiếp nhận hàng binh đã nuốt lời, ngoài 240 người già yếu được thả để họ trở về tuyên truyền quân uy của nước Tấn, còn lại hơn 40 vạn người chỉ trong một đêm bị chôn sống hết. Bạch Khởi mất lòng tin với hàng binh, dẫn đến nước Tấn mất lòng tin với thiên hạ

      Việc giết hàng binh của nước Tấn làm cho các nước thấy sự thất tín và tàn nhẫn của nước Tấn, cho nên hoàn thành sự “liên hợp” rất nhanh. Các nước cùng phối hợp đánh lại quân Tấn, dẫn đến sự thất bại hoàn toàn của quân nước Tấn.

      Trong quân sự, “tín” và “nghĩa” là chuẩn mực của người làm tướng, “Nghĩa”, có thể khích lệ quân sĩ , “tín” có thể thu phục mọi người. Binh pháp của Tôn Tử có viết rằng: “làm tướng phải có năm thứ trí, tín, nhân (từ), dũng, nghiêm…Phàm năm thứ này, tướng nào biết thì thắng, không biết thì không thắng.

       Trong công tác quản lý xí nghiệp tuy không tồn tại khái niệm “lấy nghĩa mà chiến đấu” nhưng lại tồn tại vấn đề “lấy lòng tin để thu phục mọi người”Vương giả không lừa bốn biển, làm bá không bịp lân bang. Người giỏi trị nước không lừa dân của mình…Quản lý xí nghiệp cũng vậy:

         - Một là từ niềm tin mà có lòng tin. Lãnh đạo nói lời phải giữ lời, những việc nói ra miệng, những yêu cầu đã hứa hẹn, nhất định phải làm tốt. Lời đã nói ra giống như nước đã hất đi, khó bề mà kéo lại được. Những điều nói ra mà không làm được, giải thích kiểu gì quần chúng cũng không tin. Chẳng những thế nó còn gây nên mối ác cảm và sự đối kháng tiêu cực của xã hội.

        - Hai là làm mà giữ chữ “tín”. Những điều lãnh đạo yêu cầu quần chúng phải làm được thì tự lãnh đạo cũng phải làm ra mẫu mực. Ít nhất thì lãnh đạo đã hứa với quần chúng sẽ làm cái gì thì nhất định phải làm bằng được.Nói hay không bằng làm tốt. Điều quần chúng tin phục nhất là hành động thực tế.

        - Ba là thưởng phạt cũng lấy chữ tín. Đông đảo cán bộ công nhân viên rất nhạy bén với việc thưởng phạt. Nhà quân sự lỗi lạc Ngô Khởi nói: “Nếu pháp lệnh không minh, thưởng phạt không lấy chữ “tín” thì nghe tiếng chiêng không dừng lại, nghe tiếng trống không tiến lên, tuy có hàng triệu quân nhưng hỏi có ích gì? Thưởng là để cổ vũ tính tích cực của công nhân trong công tác, phạt là cách trừng trị những hành vi có hại cho sản xuất và quản lý. Thưởng phạt cũng đều phải nghĩ đến “tín nghĩa”. Thưởng mà mất tín, không khích lệ được mọi người. Phạt mà thất tín không chống được thói xấu”.

       Tóm lại, làm một người cán bộ quản lý xí nghiệp, chỉ có làm được tới mức nói ra là tin ngay, làm cũng giữ chữ tín, thưởng phạt cũng đều lấy chữ tín thì mới đạt tới mức trên dưới tin tưởng nhau. Trên dưới tin tưởng nhau mới hình thành được“một tấm lòng” tạo nên “một mối  dây”, xí nghiệp như thế mới đầy hi vọng.

 

Chiêu 78. Binh lính yên ổn ngăn được loạn – Mọi người yên tâm sẽ xóa được hoài nghi.

       “Cầm quân kỵ loạn”, đó là lẽ thường của người xưa. Đội ngũ rối loạn, tư tưởng binh lính không ổn định, một đội quân như thế thì chưa đánh đã tan. Bởi vậy các nhà quân sự thời xưa đã rút ra kết luận là: Lòng quân vững vàng mới ngăn được nội loạn. Nhưng làm thế nào ổn định được lòng quân?

       - Thứ nhất là, quân kỵ nghiêm minh. Cầm quân phải quan tâm đến quân uy nghiêm túc. Kỷ luật nghiêm minh. Có lệnh phải thi hành, đã cấm là phải dừng, quân lệnh như sơn. Hiệu lệnh đã ra dù có nhảy vào lửa, chiến sĩ cũng phải tranh nhau mà xông lên, coi chết nhẹ như lông hồng. Một quân đội như thế, sự ổn định của nó mới tựa như bàn thạch, bởi vậy mà không thể sinh ra dao động và rối loạn.

      Thứ hai là, chủ soái phải sáng suốt. Thái công nói: Người có tài trí như mọi người không thể làm được chủ soái. Trí tuệ của chủ soái  phải vượt xa quân sĩ và tướng lĩnh khác. Một con người có những thứ đó, đủ để cho ba quân vững vàng. Thí dụ, quân đội nước Tề thời Xuân Thu, hễ có mặt Quản Trọng là thế quân vững như núi. Cho dù viễn chinh tới sa mạc phía Bắc, lạc cả lối đi, khi toàn quân từ trên xuống dưới lo lắng âu sầu, Quản Trọng cũng vẫn nghĩ được ra kế “Ngựa quen đường cũ”, nhờ vào linh tính của loài vật mà tìm ra đường về.

        Quản Trọng, nguyên là người nuôi ngựa nhưng lại có biệt tài nói chuyện được với chúng. Ông có một con ngựa quý. Có một lần ông cưỡi ngựa đến thăm bạn, trong khi hàn huyên đàm đạo với bạn thì ngựa của ông cũng đi tìm ngựa của người bạn để làm bạn. Sau đó, một vài lần ngựa của Quản Trọng tự mình đến gặp ngựa của người bạn, con ngựa của người bạn hí lên mấy tiếng, như có ý ngạc nhiên: “Làm sao mà ngươi biết đường?”. Ngựa Quản Trọng lấy chân cào cào xuống cỏ và hí mấy tiếng như muốn trả lời rằng: “Giống ngựa nhà ta một lần đi là quen đường cũ”. Quản Trọng biết chuyện ngựa tự chạy đi thăm bạn, không trách ngựa mà còn khen: “Ngựa, mày quả là kẻ có tình có nghĩa đấy”. 

       Sau này, Quản Trọng và Thấp Bằng theo ngọn cờ chính nghĩa phó tá Tề Hoàn Công đi đánh nước Cô Trúc. Lúc xuất binh sa trường vào mùa hè, sau nhiều tháng viễn chinh, lúc chiến thắng quân địch đã là mùa đông. Khi quay trở về thì tuyết rơi phủ kín đường khiến Quản Trọng không còn nhớ lối về nữa. Ông bỗng nhớ đến con ngựa của mình giỏi tìm đường trở lại thăm bạn năm xưa bèn nói với nó: “Ngựa, ngươi hãy đưa chúng ta về theo đường cũ” rồi quay sang nói với Tề Hoàn Công: “Trí nhớ của loài ngựa rất tốt, xin để con ngựa già đi trước dẫn đường”. Ngay lập tức, Tề Hoàn Công nghe theo lời Quản Trọng liền hô ba quân đi theo con ngựa già. Ngựa của Quản Trọng liền hí mấy tiếng rồi phi lên trước dẫn đường, quân của Quản Trọng và Thấp Bằng đi theo sau, qua nhiều triền núi, khe rừng, tuyết dày đã tìm được đường về.

      Gia Cát Lượng của nước Thục thời Tam Quốc lại là một vị chủ soái thông minh tiếng để muôn đời. Chỉ cần chiến sĩ biết có ông trong quân ngũ, gặp phải bất cứ cảnh ngộ nguy hiểm thế nào, lòng quân cũng không hề nao núng.

          - Thứ ba là trên dưới một lòng. Khi nội bộ trên dưới một lòng kết thành một khối vững bền rồi thì ba quân tất nhiên sẽ ổn định vững vàng, không có một lời đồn nào hoặc một sự kiện gì có thể làm náo động đội ngũ. Ngược lại đội quân đó sẽ không ổn định , nổi loạn cũng sẽ nảy sinh theo.

         Kinh nghiệm ổn định lòng quân ngăn chặn nội loạn ngày xưa đối với công tác quản lý xí nghiệp ngày nay cũng là món của cải tinh thần có thể vay mượn được. Xí nghiệp cũng cần ổn định, yên ổn trên dưới một lòng mới làm tốt sản xuất kinh doanh . Muốn để một xí nghiệp ổn định, trước hết phải có hiệu quả tốt. Đối với công nhân viên mà nói, xí nghiệp là nơi để họ mưu sinh. “Dân dĩ thực vi tiên”, lương lĩnh không đủ ảnh hưởng đến cuộc sống của công nhân, tâm tình của họ chắc chắn rất khó bình tĩnh.Cho nên hiệu quả kinh doanh của xí nghiệp là nền tảng để ổn định tình cảm công nhân và gạt bỏ được mọi vướng mắc.

         Rồi nữa, kỷ luật nhà máy phải nghiêm minh, thưởng phạt phải có sự tin cậy. Xí nghiệp có kỷ luật chặt chẽ, hành vi của công nhân có nề nếp để dựa, có kỷ cương để giữ. Vi phạm vào quy định, bất kể họ là ai, đều phải được xử phạt.

         Thứ ba là kinh doanh có sách lược, tiền đồ rạng rỡ. Trong kinh doanh, lãnh đạo của xí nghiệp có phương lược hay không, tiền đồ kinh tế của xí nghiệp có phương lược hay không, tiền đồ kinh tế của xí nghiệp có sáng sủa hay không, trực tiếp quan hệ đến đời sống công nhân sau này. Hiệu quả kinh tế của xí nghiệp ổn định và tăng trưởng lâu dài, tiền đồ khiến người ta lạc quan, thu nhập của những xí nghiệp này rất ít bị biến động.

         Thứ tư là quản lý dân chủ, trên dưới một lòng. Chế độ quản lý dân chủ là một biện pháp quan trọng để tăng cường sự gắn bó trong xí nghiệp. Thiếu tác phong dân chủ, lãnh đạo quan liêu, không hỏi han đến nỗi cực khổ của công nhân, không để công nhân tham gia quản lý, xí nghiệp như thế cho dù có hiệu quả tốt đến đâu thì tư tưởng, tình cảm nội bộ của nó cũng khó mà ổn định được.

 

Chiêu 79. Vàng bạc làm bại quân – quà cáp làm hại xí nghiệp.

         Xưa nay, nhân tố lớn nhất làm bại hoại quân đội là tướng lĩnh tham tài hiếu sắc. Khương Thái Công chỉ ra rằng: tham tài là một trong những khuyết điểm trầm trọng của tướng lĩnh quân sự. Những thí dụ như thế trong lịch sử rất nhiều. Việt Vương Câu Tiễn là chuyện nổi tiếng nhất.

        Thời Xuân Thu, nước Ngô và nước Việt là hai nước láng giềng đối địch với nhau. Năm 494 trước Công Nguyên, Ngô, Việt đánh lớn ở Phu Lúc, Việt Vương Câu Tiễn bại trận, chỉ còn lại năm nghìn tàn binh, rút về cố thủ ở núi Hội Kê (Trung bộ Triết Giang)bị quân Ngô bao vây chặt. Lúc đó Việt Vương đã mất đi thế lớn, nước Ngô diệt nước Việt đã ở thế như trở bàn tay. Trong giờ phút diệt vong đến nơi, Phạm Lãi nêu ra kế lợi dụng Thái Công để dùng quà cáp hối lộ tả hữu của Ngô Vương, xin được khom lưng quỳ gối trước Ngô Vương, giữ được mạng, giữ được nước rồi chờ dịp phục hưng. Nắm được nhược điểm của Thái tể Bá Hy tham vàng háo sắc, Việt Vương sai người đem vàng bạc và gái đẹp mua chuộc Bá Hy, qua người này để nói với Ngô Vương tha chết cho Câu Tiễn, sống làm tên nô bộc hầu hạ Ngô Vương.

         Câu Tiễn ở nước Ngô ba năm tỏ ra ân cần, lại thêm có Bá Hy đã ăn hối lộ, khuyên bảo Ngô Vương, cho Câu Tiễn về nước. Sau khi Câu Tiễn về nước,quân thần trên dưới quật khởi vươn lên, đồng thời hối lộ thêm cho quân thần  nước Ngô, cuối cùng đạt được mục đích báo thù: tiêu diệt nước Ngô, ép Ngô Vương phải chết. Nước Ngô khoan nhượng hết lần này đến lần khác, cuối cùng đi đến diệt vong chẳng qua cũng chỉ do quân thần tham tài hám sắc.

          Từ những thí dụ trên dễ dàng nhận ra rằng “vàng bạc làm bại quân” là một chân lý cổ xưa. Làm tướng lĩnh mà tham tiền ăn hối lộ thì dễ dàng đem thắng lợi ở trong tay chôn vùi tất cả.

         Hoạt động xí nghiệp là một hoạt động kinh tế trực tiếp va chạm tới tiền bạc vật chất, trực tiếp liên hệ tới lợi ích vật chất của con người , cho nên lãnh đạo trong xí nghiệp hay cán bộ quản lý tham lam tiền tài, nhận hối lộ tất nhiên sẽ phương hại đến lợi ích của xí nghiệp, nghiêm trọng hơn có thể làm tan rã xí nghiệp.

         Nếu lãnh đạo của xí nghiệp nhận quà cáp biếu xén của cấp dưới, dễ dàng rối loạn kỷ cương; nhận quà của đối tác dễ mất quyền lợi của xí nghiệp. Nhân viên nghiệp vụ tham ô tiền của, nhận hối lộ càng dễ gây ra những việc tổn hại đến lợi ích của xí nghiệp. Nhân viên thu mua ăn hối lộ có thể sẽ mua về thứ nguyên vật liệu xấu với giá cao; nhân viên tiêu thụ ăn hối lộ, có thể bán những sản phẩm đang khan hiếm với giá rẻ. Đúng như ông chủ hãng Sony, nhà doanh nghiệp Nhật Bản đã nói: Tri thức và cơ bắp cố nhiên là quan trọng. Nhưng cái quan trọng hơn là nhân cách cao thượng, vô tư, khiến cho công nhân bị cảm hóa và đi phụng hiến hết sức mình. Mong rằng các nhà doanh nghiệp xậy dựng được nhân cách vô tư cao thượng và liêm khiết đó, không nên như Bá Hy chỉ vì chút lợi riêng mà làm mất cả tiền đồ.

 

Chiêu 80. Quân biết ý tướng – Lấy một đánh mười.

         Trương Tuần là huyện lệnh Chân Nguyên đời nhà Đường, chẳng phải là tướng lĩnh quân sự lỗi lạc, nhưng trong cuộc chiến tranh dẹp loạn An Sử lại để lại một sự tích còn ghi mãi trong sử xanh.

         Thời gian An Sử nổi loạn, với thân phận của một huyện lệnh, Trương Tuần đã đấy binh dẹp loạn. Tướng địch Lệnh Hồ Triều đem quân bao vây Trương Tuần, lực lượng hai bên rất chênh lệch. Trương Tuần đã cầm cự được hơn bốn chục ngày, không hề nhận được tin tức gì của triều đình. Lệnh Hồ Triều viết thư dụ hàng, nói rằng Đường Huyền Tông chạy đến Tứ Xuyên rồi, hãy mau đầu hàng đi. Có sáu vị tướng lĩnh nói với Trương Tuần rằng: “Chúng ta không phải đối thủ của bọn giặc, vả lại Hoàng thượng sống chết thế nào chưa rõ, chẳng thà đầu hàng sớm là hơn”. Hôm sau, Trương Tuần cúng bức hình vua ở đại đường, dẫn đầu các tướng sĩ triều bái,.Ai ai cũng nức nở không ra tiếng. Sau đó đưa sáu tướng khuyên hàng ra trước nhà, trách cứ trước mọi người, rồi sai đem chém đầu.<

Lòng quân phấn chấn hắn lên. Ngay đêm đó Trương Tuần chọn ra năm trăm người lập đội cảm tử, xông vào trại địch, đốt cháy trại và thừa lúc rối loạn mà giết địch. Mấy vạn quân địch bị năm trăm người đuổi giết, phải chạy trốn ra ngoài hơn 10 dặm.

       Trương Tuần lại cử trung lương tướng Lôi Vạn Xuân đối thoại với địch. Bọn địch bắn trả loạn xạ. Lôi Vạn Xuân mặt trúng 6 mũi tên, nhưng vẫn đứng trơ trơ. Binh sĩ thấy tướng lĩnh của mình coi chết như không nên càng sục sôi nhiệt huyết, còn bọn địch thấy thế mà bạt vía kinh hồn. Về sau Trương Tuần thân chinh cầm quân, đánh bại quân địch, giành toàn thắng để hơn mười vạn hộ dân cư lại được yên ổn về nhà.

       Quân biết ý tướng, tướng biết lòng quân là tiền đề đoàn kết quan quân. Có tiền đề ấy, toàn quân đoàn kết nhất trí, hăng hái giết giặc mới có thể xuất hiện sức chiến đấu lấy một đánh mười được.

       Trong quản lý xí nghiệp hiện đại “quân biết ý tướng” cùng có ý nghĩa to lớn. Bởi chỉ có “quân biết tướng” mới có thể cho đông đảo công nhân viên hiểu được ý đồ của người quản lý, hiểu rõ mục tiêu phấn đấu của xí nghiệp, mới có thể đồng tâm hiệp lực phấn đấu cho mục tiêu đó.

       Hành khách của hãng hàng không JetBlue thường thấy David Neeleman đứng phụ phân phối thẻ lên máy bay, chất hành lý hoặc chuyển vào khoang máy bay. Mọi người đặc biệt chú ý đến David Neeleman vì ông chính là giám đốc điều hành (CEO) của JetBlue. Thay vì ngồi làm việc an nhàn trong văn phòng như các giám đốc điều hành khác, David thường ra ngoài trò chuyện trực tiếp với hành khách và giúp đỡ nhân viên.

        Ít nhất một tuần một lần, ông đều tham gia cùng đội bay JetBulue. Trên mỗi chuyến bay, David luôn tự giới thiệu mình và phát biểu đôi lời, song ông không bao giờ tỏ ra tự đề cao mình. Thay vào đó, ông tìm cách tiếp chuyện thân mật với từng hành khách để hiểu thêm những mong muốn, nhu cầu của họ. Ông cũng dành thời gian nói chuyện với phi hành đoàn, cơ trưởng, tiếp viên, nhân viên cơ khí,… để cảm ơn mọi người nỗ lực làm việc và nhấn mạnh rằng công việc họ đang làm rất quan trọng.

       Khi kề vai sát cánh cùng phi hành đoàn và sẵn sàng bắt tay vào mọi công việc, David đã củng cố tầm nhìn và động lực làm việc của mọi người cũng như tạo nên bản sắc riêng cho hãng hàng không JetBlue của mình.

       Mọi người thường cho rằng một cá nhân đơn lẻ khó tạo nên chuyển biến trong một doanh nghiệp lớn như thế. Rõ ràng là David không thể nói chuyện với tất cả các nhân viên, lại càng không thể tiếp chuyện với mọi hành khách, vì ông còn  phải điều hành hoạt động. Thế nhưng, những ai từng được gặp gỡ, trò chuyện cùng ông đều nhắc đến và dành cho ông những lời tốt đẹp khi nói chuyện với những người khác.

      David nói: “Tôi biết mình không thể tiếp xúc tất cả các nhân viên với chỉ một chuyến bay mỗi tuần, nhưng tôi muốn mọi nhân viên hiểu rằng tôi trân trọng công việc của họ, dù đó là công việc tay chân như dọn rác, hút bụi, vận chuyển…Những ai chưa được gặp tôi sẽ có dịp trò chuyện với người đã cùng làm việc với tôi trên các chuyến bay.

 

Chiêu 81. Nghĩ đến mơ cho khỏi khát – lấy lý tưởng để dụ dắt.

        “Nghĩ đến mơ cho khỏi khát” là mưu kế của Tào Tháo chợt nghĩ ra để cổ vũ chiến sĩ trong lúc nguy nan. Năm công nguyên 195, Trương Tú cắt cử Nam Dương chống lại Tào Tháo. Tào Tháo đem quân đi chinh phục. Trên đường đi tới Uyển Thành, hành quân liên tục ba ngày không có nước uống. Quân lính vừa mệt vừa khát, buồn bực không yên, lúc nào cũng có thể xảy ra hiện tượng bỏ trốn. Tào Tháo vô cùng lo lắng, ngồi trên mình ngựa, bỗng nhiên nảy ra một kế, vội làm ra vẻ vui mừng, giơ roi ngựa chỉ về phía trước, nói lớn: “Trước đây ta đã từng đi qua vùng này, còn nhớ, phía trước có một rừng mơ lớn lắm. Chúng ta có thể đi nhanh tới đó. Đến được đó, dù không tìm ra nước, cũng có thể ăn mơ cho đỡ khát”. Quân sĩ nghe nói vậy, do tác dụng phản xạ có điều kiện, trong miệng bỗng tứa ra nước miếng, cảm giác khát tự nhiên bớt hẳn đi, càng quyết tâm tiến về phía trước. Đoàn quân lại tiến thêm được một chặng, tuy rằng chẳng hề có rừng mơ nhưng  cuối cùng cũng tìm thấy nguồn nước. Mặc dù đây chỉ là một mẹo vặt Tào Tháo chợt nghĩ ra trong lúc lâm nguy, nhưng “nghĩ đến mơ cho khỏi khát” đã thành một điển cố tốt đẹp được lưu truyền đến ngàn năm sau.

        Trong quản lý xí nghiệp, một người lãnh đạo cũng nên thường xuyên nêu ra cho công nhân những mục tiêu có tính dụ dắt nhằm cổ vũ họ làm việc và phấn đấu. Nếu cứ để họ suốt ngày dán mắt vào máy móc, thao tác luôn chân luôn tay mà không có một lý tưởng hay một mục tiêu hấp dẫn để theo đuổi, làm đi làm lại mãi, sẽ sinh ra cảm giác nhàm chán, tính tích cực cũng sẽ giảm đi. Rồi những biểu hiện tiêu cực, lãn công, không quan tâm đến viễn cảnh và vận mệnh của xí nghiệp cũng nảy sinh.

        Đối với sách lược này, ông chủ hãng Sony của Nhật đã vận dụng rất khéo. Năm 1960 để khích lệ tinh thần nhân viên, ông công khai tuyên bố, đến năm 1965 thực hiện mỗi tuần nghỉ hai ngày, lương vẫn lĩnh đủ, thời gian làm việc trong ngày không kéo dài. Qua 5 năm chuẩn bị, sức sản xuất được nâng cao, mục tiêu đó được thực hiện. Năm 1967 ông lại tuyên bố: “Tôi dự định trong 5 năm tới sẽ nâng mức lương gấp đôi hiện nay, để thu nhập của công nhân vượt qua các nước Châu Âu, bằng nước Mỹ”. Do tính tích cực của công nhân được nâng cao, 5 năm sau, mục tiêu này cũng đạt được. Dĩ nhiên có nhiều lý do để đạt tới thành công, nhưng một trong những lý do đó là ông chủ Sony hết lần này tới lần kia đều nói với công nhân viên chức của mình “phía trước có rừng mơ”, và theo những mục tiêu mà ông chỉ ra, đã tìm thấy “rừng mơ” ấy thật.

        Người lãnh đạo phải không ngừng khích lệ cấp dưới. Nhưng khích lệ như thế nào?. Giả định mục tiêu, là một kiểu “dụ dắt bằng lý tưởng”. Tuy nhiên mục tiêu không thể quá trống rỗng, quá viển vông, mong không thể tới. Cũng như vậy, giả định những cái tầm thường gần gũi quá, cũng không thể khơi gợi tinh thần tiến thủ. Giả dụ như Tào Tháo không nói phía trước có một rừng mơ, mà lại nói, đi về phía trước ba ngày nữa sẽ có một con sông, vừa có thể uống no vừa có thể tắm rửa, sẽ không cổ vũ được sĩ khí, bởi vì quân sĩ chịu ba ngày nữa có thể có người sẽ ngất xỉu trước khi có nước. Ngược lại, Tào Tháo lại nói, cố lên một chặng nữa, tìm không ra nước thì giết ngựa uống máu. Mục tiêu đó tuy gần, có thể nhìn thấy, nhưng vẫn không động viên được ai, vì nó tầm thường quá.

 

      Chiêu 82. Kích tướng cho thêm anh dũng – Dẫn mọi người mạnh tiến.

      “Kích tướng” là một biện pháp gợi lại ý chí chiến đấu và tinh thần quyết tử của tướng sĩ trong giờ phút quan trọng.

      Đào Khản là tướng lĩnh quân sự đời Tấn của Trung Quốc. Năm công nguyên 328, Tô Tuấn phản loạn, công phá kinh thành, khống chế thái tử, thao túng triều chính. Tướng quân Ôn Kiều dấy binh để chinh phạt Tô Tuấn. Do binh lực của mình quá ít ỏi nên Ôn Kiều đã mời Đào Khản cũng xuất quân. Do Ôn, Đào hai người trước đây từng có mâu thuẫn, Đào không muốn hợp chiến với Ôn nên thoái thác nói:“Tôi không phải là chiến tướng, xin đi mời người khác!”, rồi sai bộ tướng Củng Đăng đem một số nhỏ quân sĩ tới chỗ Ôn Kiều. Sau khi Ôn Kiều dấy binh, Đào Khản liền “rút củi đáy nồi”, sai người rút số quân sĩ của mình về. Khi Ôn Kiều lên đường, đã gạt lệ viết thư cho Đào nói rằng: Tô Tuấn phản nghịch vô đạo, người người đều căm ghét, thiên hạ đều muốn giết. Kiều tôi với ông đều đội ơn vua, hiện nay thiên tử bị khống chế, xã tắc đang lâm nguy chính là lúc chúng ta đền nợ nước. Kiều tôi binh lực mỏng manh, nếu có thất bại, thân này dù “gan nát óc lầy” cũng không có lỗi gì với xã tắc. Còn nơi ông quân nhiều ngựa khỏe, trong khi sài lang tung hoành, nước nhà lâm nguy thế này, ông lại nỡ “chần chừ dẹp giặc”, nếu thiên hạ biết điều này, danh dự của ông sẽ vào đâu?

      Đào Khản đọc xong thư lập tức khoác chiến bào lên ngựa, tập hợp tướng sĩ ngày đêm không nghỉ, đến được chỗ Ôn Kiều hợp binh làm một, hăng hái đi đánh quân phản loạn. Như thế mới gọi là “mời tướng không bằng kích tướng”.

     Napoleon trong chiến tranh  cũng thường hay dùng cách kích tướng để khơi dậy ý chí chiến đấu của quân sĩ. Trong thời kỳ đầu của chiến dịch chinh phục Man-đu,khi giao chiến với quân đội Áo, bị bất lợi. Lúc đó có hai trung đoàn quân Pháp có biểu hiện sợ địch, rụt rè, và trong tình hình hoang mang lúng túng đã vứt bỏ trận địa kiên cố của họ. Napoleon tới nơi đóng quân của hai trung đoàn này, cho tập hợp binh lính lại, với giọng điệu đau khổ, phẫn uất nói chuyện với cả đơn vị, tránh móc họ sợ địch như sợ cọp, đã vứt bỏ trận địa kiên cố của mình và cũng vứt luôn cả danh dự trong chiến tranh lần trước. Sau buổi nói chuyện, Napoleon đã lệnh cho tham mưu trưởng viết lên lá cờ trung đoàn của họ, rằng họ không thuộc phương diện quân của Ý (lúc đó quân Pháp do Napoleon chỉ huy gọi là phương diện quân I –ta-li-a, nổi tiếng anh dũng thiện chiến). Những lời qưở trách của Napoleon làm cho quân lính Pháp cảm thấy xấu hổ, khóc lên mà nài nỉ hãy cho họ một cơ hội để rửa nhục. Napoleon gắng gượng đồng ý với yêu cầu của họ. Tướng sĩ của hai trung đoàn này mang theo nỗi căm uất sau khi bị sỉ nhục xông ra chiến trường, hăng hái giết giặc, sức mạnh không có gì chống nổi.

      Napoléon Bonaparte (15 tháng 8 năm 1769 – 5 tháng 5 năm 1821) là một nhà quân sự và nhà chính trị kiệt xuất người Pháp trong và sau cuộc cách mạng Pháp cũng như các cuộc chiến tranh liên quan ở châu Âu.

       Với đế hiệu Napoléon I, ông là Hoàng đế của người Pháp từ năm 1804 đến năm 1815. Cuộc cải cách pháp luật của ông, Bộ luật Napoléon, đã có những ảnh hưởng lớn lên nhiều bộ luật dân sự trên toàn thế giới, nhưng ông được nhớ đến nhất bởi vai trò của mình trong các cuộc chiến tranh mà Pháp phải đương đầu với hàng loạt liên minh, được gọi là các cuộc chiến tranh Napoléon. Ông đã thiết lập quyền bá chủ trên phần lớn lục địa châu Âu và tìm cách truyền bá những lý tưởng của cách mạng Pháp, đồng thời củng cố nền đế chế làm phục hồi những nét của chế độ cũ Pháp. Nhờ thắng lợi trong những cuộc chiến này, thường là chống lại đối phương có ưu thế về quân số, ông được coi là một trong những nhà quân sự vĩ đại nhất mọi thời đại, và các chiến dịch của Napoléon được nghiên cứu tại các học viện quân sự trên khắp thế giới.

        Căn cứ của cách kích tướng là, mọi người đều có nhu cầu được người khác thừa nhận giá trị. Nhu cầu tâm lý này có hai loại biểu hiện, một loại là tâm lý theo đuổi vinh dự, một loại là tâm lý bảo vệ danh dự của mình.Loại tâm lý nói trước khi bị khích lệ sinh ra tác dụng rõ nét nhất. Loại sau khi bị sỉ nhục hoặc xúc xiểm lập tức sẽ gây nên sự biến động mạnh trong tình cảm. Kích tướng là lợi dụng trạng thái tâm lý này.

         Khích lệ (bằng tinh thần và vật chất) và kích lệ là hai phương thức khác nhau không thể thiếu được khi muốn huy động tính tích cực của con người. Đương nhiên, khích lệ là chủ yếu và thường dùng nhất, còn kích lệ thì thường ít dùng, nó chỉ có tác dụng hỗ trợ thôi.Thuật kích tướng mà dùng cho khéo, lại đúng lúc thì sẽ sinh ra hiệu quả lớn mà không mất vốn liếng gì. Dùng không xác đáng hay dùng quá nhiều cũng dễ mất đi tính hiệu quả của nó.

         Trong hoạt động xí nghiệp, để huy động tính tích cực của mọi người, cũng có thể dùng thuật “kích tướng” một cách xác đáng và vừa phải. Dưới đây là hai thí dụ do khách quan đưa lại nỗi nhục mà kích dậy nhiệt tình của mọi người.

       Nhà máy nọ  nhập về mấy dàn máy sấy của nước ngoài.Sau khi sử dụng, phát hiện thấy ở bộ phận tăng nhiệt có vấn đề nghiêm trọng, ảnh hưởng sản xuất.Thế nhưng phía nước ngoài không chịu thừa nhận là do vấn đề cơ khí của thiết bị mà lại vu cho rằng trình độ kỹ thuật của nhà máy không đuổi kịp. Không chịu được nỗi nhục đó, nhà máy đã liên kết với mấy trường đại học và cơ quan nghiên cứu trong nước cố tìm lời giải. Cuối cùng, không những tìm ra vấn đề chất lượng sản phẩm của phía nước ngoài, giành được quyền bồi thường, mà còn nghiên cứu ra thiết bị kỹ thuật vượt cả trình độ kỹ thuật. Kết quả này, thực tế là “kích” ra được. Nếu sản phẩm nước ngoài chất lượng tốt, lắp máy lên là sản xuất thuận lợi, hoặc khi mới phát hiện thấy có vấn đề, phía nước ngoài vui vẻ bồi thường, chúng ta sẽ không hăng say nghiên cứu nó và cũng vì thế sản phẩm nghiên cứu khoa học tiên tiến vượt cả trình độ kỹ thuật nước ngoài không nhất định được ra đời.

        Một thí dụ khác là ở một xí nghiệp nhà quê. Giám đốc xưởng hóa chất Đông Hoa mang sản phẩm của mình đi dự hội nghị chào hàng toàn quốc, bị người ta đẩy ra khỏi cửa.Thậm chí xin một chỗ dán tờ quảng cáo họ cũng không cho.  Nước mắt uất ức về nỗi nhục này đã đành chỉ ngấm ngầm mà nuốt vào trong. Khi trở về, ông đã biến nỗi nhục này thành dũng khí. Một tay nắm kỹ thuật, nắm chất lượng, một tay nắm việc tiêu thụ, ông mời chuyên gia ở các trường đại học và viện nghiên cứu lớn. Sau một thời gian tập trung nhân tài kỹ thuật, xưởng đã đem ra khai thác 16 loại sản phẩm mới. 8 loại qua giám định, 8 loại lần lượt được giải thưởng chất lượng cao cấp bộ, tỉnh, thành phố và huy chương bạc cấp nhà nước. 5 loại đã lấp chỗ trống cho mặt hàng trong nước, 3 loại đạt trình độ tiên tiến quốc tế. Những thành tích đó, quả là được “ép” ra, được “kích” ra vậy.

        Hai ví dụ trên nói rõ trong quá trình phát triển của xí nghiệp, lợi dụng điều kiện khách quan làm một động lực kích lệ cán bộ công nhân viên của mình hăng hái vươn lên, đó là việc có thể làm và rất có hiệu quả. Nếu những người lãnh đạo vừa dùng thuật kích tướng để kích dậy lòng hăng hái của mọi người, vừa có thể đi đầu cùng mọi người phấn đấu, thế thì, một xí nghiệp như vậy còn lo gì mà không khắc phục được mọi khó khăn.

          Rosemary thuộc thế hệ thứ sáu của những người đầu tiên di cư đến Úc. Samuel Pratt Winter, tổ tiên bên nội của bà, từ năm 14 tuổi đã rời bỏ IreLand sang Úc. Tổ tiên bên ngoại của Rosemary là người Scotland di cư đến bang New South Wales, trong số đó có John Robertson – về sau trở thành thống đốc bang New South Wales. Rosemary là con cháu của những người đã dám ước mơ và đã thành công. Rosemary thừa hưởng tính cách mạnh mẽ không sợ thất bại ấy từ truyền thống gia đình của mình.

        Ở tuổi 40, Rosemary chưa cảm thấy thật sự hài lòng với cuộc sống của bản thân. Bà mong muốn được làm một điều gì đó thật khác biệt cho cuộc đời còn lại. Khi thấy một mẩu quảng cáo tuyển dụng giáo viên đăng trên báo, bà liền gọi điện đến  để ứng tuyển. Nhưng thực ra đây lại là mẫu quảng cáo tuyển nhân viên bán từ điển bách khoa nên bà không mấy quan tâm.

        Mọi việc sẽ rơi vào quên lãng nếu Michael, chồng bà, không nói rằng đây là một việc vượt quá khả năng của bà và khuyên bà không nên cố thử sức.Tưởng chừng câu nói này sẽ làm Rosemary nản lòng nhưng thực ra đây lại chính là điều mà Rosemary, với cá tính nổi loạn di truyền của gia đình, đang rất cần được nghe. Bà cảm thấy mình đang bị “thách thức”.

         Khách hàng đầu tiên của Rosemary là những người bạn của bà, những người đã mua từ điển mà không cần nghe bất kỳ lời quảng cáo nào.Việc này cứ tiếp diễn cho đến một hôm người bạn của bà bất ngờ nói: “Nếu bạn không thuyết phục được mình rằng đây là một quyển từ điển hữu dụng thì rất tiếc, mình sẽ không mua nó đâu”. Điều này đặt Rosemary vào thế phải làm việc thực sự và bà đã bắt đầu dùng lý lẽ để thuyết phục khách hàng mua sản phẩm. Khả năng kinh doanh của bà đã được mọi người công nhận khi doanh số bán hàng ngày càng tăng cao. Điều này càng khiến bà thêm tự tin vào bản thân mình ( xin xem thêm bài: “Đừng tin họ").

         Rosemary trực tiếp đến gặp sếp của mình để xin lời khuyên, nhằm giúp bà có thể tăng doanh số bán hàng. Câu trả lời bà nhận được là :”Gõ cửa từng nhà một , nhưng chắc là cô không làm nổi việc này đâu”. Lúc đầu, Rosemary cũng cho rằng việc gõ cửa từng nhà quả thực là quá sức với mình.Nhưng khi đến bãi đậu xe, dòng máu tiên phong di truyền trong người bà chợt trỗi dậy. Bà muốn chứng minh rằng sếp đã đánh giá sai về bà. Rosemary đã chạy một mạch 70 bậc thang trở lại văn phòng của sếp để hỏi:”Tại sao bà lại nghĩ rằng tôi không thể bán hàng trực tiếp?”. Câu trả lời Rosemary nhận được là lời thách thức tìm hiểu về nghệ thuật bán hàng “gõ cửa từng nhà” .

        Trở về nhà, Rosemary gọi điện cho cha và hỏi ý kiến. Ông bảo: “Con chỉ nên lưu tâm đến quan điểm của chính con. Đừng để bị dẫn dắt bởi quan điểm của người khác. Tổ tiên của con đã gõ cửa lục địa châu Úc này. Cha không thấy có lý do nào khiến con không đủ khả năng gõ cửa từng nhà để bán hàng cả”. Với sự khích lệ ấy, Rosemary đã phá vỡ các kỷ lục bán hàng của nước Úc và cả thế giới đối với sản phẩm Bách khoa toàn thư, Sau này, Rosemary nhận định rằng:”Để thành công, bạn phải để tâm trí không bị chi phối bởi những người có tư tưởng bàn lùi. Walt Disney thường đưa ý tưởng mới ra tham khảo bạn bè. Nếu có nhiều ý kiến phản đối, Disney lại theo đuổi ý tưởng đó đến cùng. Đôi khi những lời chê bai lại là động lực để bạn quyết tâm hơn đối với mục tiêu của mình”.

 

Chiêu 83. Quân lấy tĩnh để thắng – Nghiệp lấy yên để lời.

      Tác phẩm quân sự nổi tiếng thời chiến quốc “Úy Liêu Tử” nói rằng: Quân đội lấy tĩnh thắng động, lấy tập trung binh lực để thắng binh lực phân tán. Lực lượng phân tán, sức chiến đấu bị giảm sút đi, lòng sinh nghi hoặc dễ xảy ra phản loạn. Tĩnh trong lĩnh vực quân sự bao gồm hai hàm ý. Một là trạng thái chờ đợi chiến đấu, kỷ luật nội bộ nghiêm minh, trên dưới một lòng bảo đảm sự bình tĩnh yên ổn. Hai là ý đồ quân sự thận trọng, hành động quân sự không hấp tấp, không ra quân ào ạt, không để lộ ý đồ của mình. Sự “tĩnh” này có thể thắng đội quân có hành động khinh suất. Sự trấn tĩnh của tướng sĩ trong nội bộ quân đội và việc lấy tĩnh thắng động trong hành động quân sự là phương pháp quan trọng để thắng địch.

      Quân đội có thể tự thân mình giữ ở trạng thái trấn tĩnh được hay không, mấu chốt là ở tướng soái. Trong “Úy Liêu Tử” có nói: Làm tướng soái cũng ví như bộ não trong quân đội, các bộ phận dưới quyền như chân tay. Đại não hoạt động chăm chú thì chân tay cũng hoạt động dứt khoát khỏe khoắn. Đại não có điều nghi hoặc, động tác của chân tay cũng rối ren. Cho nên tướng soái không dùng trí óc để giải quyết công việc thì binh lính không hoạt động bài bản được. Cho dù có đánh thắng cũng chẳng qua chỉ là ngẫu nhiên, ăn may chứ không phải là do nắm được mưu lược tiến công.

      Năm công nguyên 234, Gia Cát Lượng đem 10 vạn quân ra Tà Cốc Khẩu đánh quân nước Ngụy. Tư Mã Ý đem quân Ngụy nghênh chiến. Lúc ấy tướng sĩ quân đội nước Thục sĩ khí rất cao, khí thế rất hăng hái. Tư Mã Ý đoán định rằng đánh nhanh không có lợi cho mình, bèn cắm doanh trại, đào hào đắp lũy, cố thủ không đánh nữa.Gia Cát Lượng sai người mang đưa cho Tư Mã một bộ quần áo đàn bà, ý muốn sỉ nhục rằng: “nhát gan như đàn bà”, muốn “kích” cho Tư Mã Ý ra đánh. Nhưng Tư Mã Ý chỉ cười và án binh bất động. Mỗi ngày một lâu quân sĩ suốt ruột, náo động không yên, yêu cầu cho ra đánh. Tư Mã Ý cố ý sai người về triều đình ở Lạc Dương xin ý kiến Hoàng Thượng, mượn danh nghĩa triều đình để dẹp không khí nóng vội của quân sĩ xuống. Cuối cùng ép cho quân nước Thục rút đi, quân nước Ngụy chẳng bị sây xứt gì.

      Không thành kế của Gia Cát Lượng là một kỳ tích về lấy tĩnh thắng động: Quân nước Thục lần đầu ra khỏi Kỳ Sơn, đánh trận nào thắng trận ấy, hạ liền ba quận. Nhưng chỉ vì dùng lầm Mã Tốc dẫn đến Nhai Đình thất thủ, bị địch bóp chặt cái yết hầu của Hán Trung. Gia Cát Lượng lập tức tổ chức triệt thoái. Vừa sắp xếp đâu vào đấy, bản thân còn chưa kịp hành động, thám mã đã về báo Tư Mã Ý đem mấy chục vạn quân đang áp sát chân thành. Trong thành chỉ có vài ngàn quân ốm yếu già nua với hơn chục quan văn. Đánh thì không có mãnh tướng, rút thì không có thời gian, thế là Gia Cát Lượng bèn cho quân sĩ hạ cờ, mở toang bốn cổng thành, còn bản thân thì lên trên thành ngồi thắp hương gảy đàn, trấn tĩnh như không có gì xảy ra, không có ai bên cạnh. Tư Mã Ý thấy vậy, sợ rằng có mưu lừa gì đây, bèn ra lệnh rút quân ra ngoài 40 dặm. Gia Cát Lượng giành được đủ thời gian dẫn quân ung dung triệt thoái.

       Quản lý xí nghiệp cũng tồn tại vấn đề là nội bộ cầu “tĩnh”, bên ngoài thì dùng sách lược lấy “tĩnh thắng động”.

       “Tĩnh” trong nội bộ xí nghiệp chủ yếu là chỉ nội bộ bình hòa , yên ổn, trên dưới một lòng , không có hiện tượng xì xào bàn tán, đơm điều đặt chuyện. Tục ngữ có câu “hòa khí sinh tài”. Điều tra những xí nghiệp làm ăn có lãi, đa số đều tồn tại không khí nội bộ bình hòa, yên ổn, tâm tư mọi người đều tập trung vào sản xuất. Ngược lại ở những xí nghiệp làm ăn thua lỗ, không khí oán trách trong cán bộ công nhân viên rất nhiều. Những người muốn đơm đặt hoặc làm điều mờ ám rất có đất dụng võ, còn những người nai lưng ra làm việc lại ở trạng thái bị ức chế.

       “Tĩnh” trong hành động đối ngoại của xí nghiệp là chỉ phương sách kinh doanh. Khi xác định hạng mục gì không nên nóng vội, manh động, không nên thấy người khác kiếm được tiền đã đỏ mắt, nóng đầu lên cũng làm theo.

        Ngày giáng sinh sắp đến, các công ty bánh kẹo lớn của thành phố New York tới tấp làm ra những loại bánh mới. Muốn cho mọi người biết bánh của họ thích hợp nhất cho lễ giáng sinh, họ tranh nhau quảng cáo trên mọi phương tiện truyền thông, kể cả trong các đường làng ngõ xóm. Trong cuộc cạnh tranh quyết liệt này, duy có một công ty bánh kẹo, không lớn, cũng không có tiếng tăm lắm, vừa không tuyên truyền, cũng không lên vô tuyến truyền hình. Dường như họ cũng không định bán bánh của mình?

        Thực ra không phải như vậy. Sách lược tiêu thụ mà công ty này áp dụng rất tuyệt diệu. Vì sữa bò là mặt hàng chính, nên buổi sáng hàng ngày họ có rất nhiều nhân viên bán sữa đưa đến các gia đình. Công ty đã lợi dụng một cách khéo léo việc đưa sữa để tuyên truyền bánh của mình cho lễ giáng sinh. Họ làm rất nhiều tấm cạc in chủng loại bán, giá tiền, trưng cầu ý kiến về bánh của công ty và không quên đảm bảo đưa bánh đến đúng giờ. Tấm cạc có một sợi dây nhỏ, để buộc vào mỗi bình sữa. Ngày đầu đưa đi, họ đề nghị các hộ tiêu dùng xem kỹ và điền vào tấm thẻ chủng loại bánh mà mình yêu cầu. Ngày thứ hai, khi người đưa sữa đưa bình sữa mới thu lại bình cũ, thu luôn tấm thẻ về. Tấm thẻ này đồng thời cũng trở thành đơn đặt hàng và điều tra thị trường.

        Điều này tiện cho khách hàng, không cần đi ra ngoài nhưng vẫn mua được mặt hàng cần thiết, đồng thời công ty cũng bán được hàng của mình, làm cho hàng loạt bánh đã đi vào hàng ngàn vạn hộ tiêu dùng trước đêm giáng sinh.

         Quản lý cho nội bộ xí nghiệp yên ổn, bình lặng. Trong việc chọn mặt hàng kinh doanh thì bình tĩnh, tỉnh táo ,đó là bước thao lược quan trọng mà các nhà doanh nghiệp cần cân nhắc cẩn thận.

 

Chiêu 84. Dưỡng binh chuẩn bị chiến đấu  

Trữ sức lúc hăng, đối phó địch lúc lắng.

       Tục ngữ có câu “dưỡng binh ngàn ngày, dùng binh một ngày”. Thực tế, chẳng có một bước nào mà lại không coi trọng vấn đề nuôi binh và luyện binh. Ngay như hoàn cảnh hòa bình một thời gian dài cũng không bao giờ quên vấn đề dưỡng binh và chuẩn bị chiến tranh.

      Trên vấn đề dùng binh, sĩ khí của binh lính tồn tại khái niệm “hăng” và “lắng”. Tôn Tử nói ý rằng : “Ba quân có thể đoạt khí, tướng quân có thể đoạt tâm”.  Khí ở đây là sĩ khí của binh lính. Sĩ khí của quân đội có lúc cao lên, có thể tiến công và có thể thắng trận; Khi sĩ khí giảm sút hay chìm lắng, đánh trận dễ bị bại.

       Cuộc chiến đấu tại Trường Chước giữa quân Tề và quân Lỗ trong lịch sử, quan chỉ huy của nước Lỗ là Tào Tuế đã dùng quan hệ giữa hăng và lắng để đánh thắng trận. Lỗ Trang Công lúc mở đầu trận đánh , không chờ cho quân Tề mệt mỏi đã muốn dóng trống lên đánh và bị Tào Tuế ngăn lại, đợi cho đến lúc quân Tề xông lên ba lần đều không thắng lợi, khi sĩ khí đã đến lúc giảm đi, bấy giờ Tào Tuế mới phát lệnh tấn công. Quân Lỗ đánh bại quân Tề, giành toàn thắng. Trang Công hỏi lẽ làm sao lại thắng, Tào Tuế nói: Đánh trận cần dũng cảm và sĩ khí. Đánh trống lần thứ nhất, sĩ khí của quân lính hăng hái nhất. Dóng trống lần thứ hai, sĩ khí đã giảm xuống, đợi gõ trống đến lần thứ ba, sĩ khí đã lắng hẳn xuống. Khi sĩ khí của địch lắng hẳn xuống mà sĩ khí quân ta lại ở điểm cao nhất, cho nên có thể thắng được địch.

      Trong hoạt động của xí nghiệp hiện đại cũng tồn tại cái “hăng” và “lắng” với nhiều tính chất khác nhau. Thí dụ, tiền vốn và nguồn vốn của xí nghiệp có lúc dồi dào , như sĩ khí “hăng” , có lúc cạn kiệt như sĩ khí “lắng”. Thể lực và tinh thần của công nhân viên cũng có lúc  hăng. Cũng như vậy, nhiệm vụ sản xuất của xí nghiệp lúc lắng xuống lúc hăng lên… đều cần thiết phải vận dụng chiến thuật “giành thế hăng để đối phó với thế lắng”. Bất kỳ xí nghiệp nào cũng chịu ảnh hưởng của khí hậu của cả một nền kinh tế. Cho nên lúc dư dật cũng sẽ có lúc túng thiếu. Nguồn vốn cạn, xí nghiệp rất khó hoạt động, tìm mặt hàng mới, chuyển hướng kinh doanh đều làm cho đã khó lại khó thêm. Cho nên vốn liếng xí nghiệp khi dư dật nên tích trữ một ít để giành đối phó lúc bị lắng vốn.

      Xí nghiệp không tách rời khỏi công nhân viên. Thể lực, tinh lực, trí lực của công nhân viên, để luôn giữ được dồi dào thì cần phải cho họ thời gian đầy đủ để nghỉ ngơi và vui chơi. Đồng thời, phải đầu tư trí lực bằng cách tập huấn kỹ thuật cho công nhân để bồi bổ cho họ tri thức kỹ thuật mới, tăng thêm kỹ năng mới. Đó cũng là một kiểu để giành cái “hăng” về mặt này.

     “Trữ sức lúc hăng để đối phó lúc lắng” là sách lược quan trọng để xí nghiệp có sinh khí dồi dào và ngày càng đi lên .Đó là một loại tư tưởng biện chứng vừa đơn giản vừa lạ lùng tế nhị đáng để cho các nhà doanh nghiệp suy nghĩ vận dụng.

 

Chiêu 85. Hiểu rõ điều hại – Biết rõ điều lợi.

 Lợi và hại là vấn đề người ta hay quan tâm nhất.Quan hệ lợi, hại là một thứ quan hệ quan trọng nhất trong tất cả các mối quan hệ. Bởi vậy khi tiến hành các công tác có tính thuyết phục với con người, vạch ra được quan hệ lợi hại là điều dễ động lòng người nhất. Cho nên trong hoạt động quân sự thời xưa mới xuất hiện những thuyết khách “hiểu điều lợi hại”. Các đạo sĩ thời Xuân Thu chiến quốc chính là nhờ vào việc đi du thuyết về lợi hại ở các nước chư hầu mà có cơm ăn. Biết điều lợi hại có thể làm cho người ta hạ quyết tâm đi làm một việc gì hay thay đổi một quyết tâm gì đó.

      Thời chiến quốc, đại tướng nước Sở là Chiêu Dương đem quân đi đánh nước Ngụy, đánh thắng quân Ngụy, chiếm được 8 thành trì, tiếp đó quay sang đánh nước Tề. Nước Tề lúc đó ở thế yếu, khó mà có thể chống lại nước Sở, bèn cử Trần Chân làm đặc sứ đi gặp Chiêu Dương dùng ngụ ngôn “vẽ rẵn thêm chân”, nói với Chiêu Dương rằng, muốn lập công mới e sẽ dẫn tới công cũ cũng bị mất hết. Chiêu Dương hiểu rõ điều lợi hại trong đó, lập tức cho bãi binh.

       Thời Xuân Thu, tướng nước Sở là Ngũ Tử Tư trên đường trốn chạy bị nhân viên canh giữ biên cương bắt được. Ngũ Tử Tư nói: “Sở vương cho bắt ta là muốn được viên ngọc báu gia truyền của ta. Thế nhưng trong khi chạy trốn, ta đã làm rơi mất. Nếu các người có giải ta về kinh đô, ta sẽ bảo ngươi khám được viên ngọc và đã nuốt vào trong bụng rồi”. Người lính kia sợ bị mổ bụng nên đã im lặng thả cho Ngũ Tử Tư đi.

      Gia Cát Lượng đi sứ Đông Ngô, dùng ba tấc lưỡi thắng quần thần, tức là một cuộc giáo dục gợi mở về điều lợi hại.

        Năm 208 công nguyên, Tào Tháo hành quân xuống phía Nam, chiếm Kinh Châu đánh thẳng tới Hạ Khẩu, muốn một mạch tiêu diệt Lưu, Tôn, thống nhất Trung Quốc. Tình thế nguy kịch, việc Tào Tháo diệt Lưu Bị chỉ là trong một sớm một chiều. Trong giờ phút nguy hiểm đó, Tôn Quyền lại mượn thế hiểm trở của Trường Giang, tọa sơn quan  hổ đấu. Thế là Gia Cát Lượng đề ra việc đi sứ Đông Ngô, khuyên Đông Ngô tham chiến. Gia Cát Lượng nói với Tôn Quyền rằng: “Tào Tháo đã bình định phía Bắc, công phá Kinh Châu, tiếng tăm lừng thiên hạ. Lưu tướng quân buộc phải lui đến Hạ Khẩu. Tướng quân nên lượng sức mà làm. Nếu muốn lấy sức mạnh đông đảo nước Ngô nước Việt cộng lại, thì nên cắt đứt quan hệ với Tào Tháo. Nếu không chống đỡ được, thì nên bó giáo quy hàng. Hiện nay tướng quân ngoài mặt thì phục mọi người, nhưng tâm lại do dự. Sự việc cấp bách mà không quyết đoán, đại họa sắp giáng xuống đầu rồi!”. Tôn Quyền hỏi lại: “Lưu Bị tại sao không hàng Tào!”.Gia Cát Lượng đáp lại…là do giữ nghĩa không chịu nhục, huống hồ Lưu tướng quân là người đời sau của Hoàng Tộc, anh tài cái thế, làm sao mà chịu khuất theo Tào Tháo”. Tôn Quyền bỗng biến sắc mặt nói : “Ta không thể lấy Đông Ngô và mười vạn tướng sĩ khuất phục theo Tào Tháo mà cam chịu phụ thuộc. Ta cũng quyết tâm chống Tào Tháo”. Tôn Quyền hạ  quyết tâm, nhưng lòng còn chưa chắc chắn, thế là Gia Cát Lượng lại phân tích điều có lợi và bất lợi của đôi bên, nói Lưu tướng quân có chừng mười vạn người, quân lính của Lưu Kỳ cũng không dưới một vạn. Quân Tào từ xa đến mệt mỏi, vả lại quân lính phía Bắc không quen thủy chiến. Quân lính ở Kinh Châu hàng Tào Tháo nhưng lòng không phục. Tôn tướng quân nếu sai mãnh tướng đem vài vạn quân cùng hợp tác với Lưu tướng quân, nhất định sẽ đánh bại Tào Tháo”. Tiếp đó Gia Cát Lượng lại phân tích thêm về tiền đồ sau khi thắng Tào Tháo: “Quân Tào bại trận rút về phía Bắc, như vậy Kinh, Ngô thế lực sẽ phát triển, cục diện vững như đỉnh ba chân có thể hình thành”, Thành bại là ở một hành động này, quyết định ở sự lựa chọn của tướng quân”. Tôn Quyền nghe Gia Cát Lượng phân tích lợi hại quyết tâm liên hợp với Lưu Bị chống Tào Tháo. Thế là xuất hiện trận Xích Bích với thế lấy yếu thắng mạnh. Đấy là điển hình của “hiểu điều hại, rõ điều lợi”.

        Kế sách này dùng trong quản lý xí nghiệp là phải thường xuyên giáo dục về “hiểu biết điều lợi hại” cho công nhân của mình.

        Công nhân viên chức đi làm thì tư tưởng chỉ đạo cơ bản là vì cuộc sống, cho nên quan hệ lợi hại là vấn đề họ quan tâm đến nhiều nhất.. Đối với mỗi một hoạt động gì mới công nhân viên đều muốn tìm hiểu xem hoạt động ấy có quan hệ gì đến lợi ích của mình. Qua từng thời gian, họ đều muốn tìm hiểu xem biểu hiện của mình trong con mắt người quản lý cảm giác ra sao, liệu có được tăng lương không? Liệu có bị “ra rìa “ không? Cũng như vậy, tình trạng thị trường thay đổi, cục diện của xã hội không ổn định vv… đều là những vấn đề mà công nhân viên chức rất quan tâm, bởi những thứ đó đều có quan hệ tới lợi ích thiết thân họ.

        Người lãnh đạo xí nghiệp có trách nhiệm tìm hiểu và trả lời những câu hỏi cán bộ nhân viên quan tâm nhất, đó là vấn đề quan hệ lợi,hại .Thí du, mỗi một hạng mục nghiệp vụ, kinh doanh làm được tốt sẽ mang lại hiệu quả như thế nào? Có hiệu quả rồi thì sẽ đem lại cho công nhân bao nhiêu lợi ích? Ngược lại, nếu thất bại sẽ đưa tới sự mất mát như thế nào? Sự thay đổi của thị trường sẽ đem lại cho xí nghiệp những cơ hội phát triển hay điều kiện bất lợi gì? Báo cáo với công nhân những tình hình đó và liên hệ với lợi ích của công nhân tức là đã “hiểu điều lợi hại” trên phạm vi tổng thể. Trong lòng đã rõ, biết được lợi ích của mình ở đâu, tính tích cực của họ tất nhiên sẽ cao lên.

 

Chiêu 86. Tầm nhìn xa rộng, lòng nghĩ tới toàn cục.

       Tôn Tử nói đại ý là: “Cần phải có tầm nhìn toàn diện để nhận thức tình hình của thiên hạ.Một quân đội như thế không bị mòn nhụt mà còn đạt được những thắng lợi tương ứng, đó là phép tắc của mưu lược, tác chiến”.

       Dùng binh tác chiến cần phải rõ mục tiêu chính trị, tầm nhìn xa rộng, lòng phải nghĩ tới toàn cục, như thế mới rõ được mục tiêu, biết mình biết người, không đánh thì thôi, hễ đánh là thắng.

        Lưu Bị ở thời Tam Quốc, sau khi kết nghĩa ở đào viên, bèn kéo một cánh quân, chỉ biết chống Tào Tháo mà không làm rõ được chí lớn. Tào Tháo vốn đã không coi Lưu Bị ra gì, không thèm để ý, vì kẻ thù chính của Tào Tháo lúc ấy chính là Viên Thiệu. Khi Tào Tháo đang chuẩn bị đánh lớn với Viên Thiệu ở Quan Đô, Lưu Bị đột nhiên liên hệ các đại thần chuẩn bị chinh phạt Tào Tháo, và giết chết thứ sử Từ Châu, chiếm cứ Hạ Bì. Hành động đó làm Tào Tháo nổi giận, bèn tạm thời để Viên Thiệu lại mà thanh toán Lưu Bị trước. Binh mã của Lưu Bị không đủ chịu một đòn của quân Tào Tháo, mà Tào lại thân chinh đem quân đánh úp, Lưu Bị không kịp đỡ, toàn quân thất bại tơi bời. Lưu Bị đành như chó lạc nhà, một mình lang thang chạy trốn và tìm tới Viên Thiệu. Trận Quan Đô, Tào Tháo đánh bại Viên Thiệu, Lưu Bị lại chạy tới chỗ Lưu Biểu. Lưu Biểu lại cử Lưu Bị đi trấn giữ Tân Dã.Tình hình tồi tệ như vậy, Lưu Bị rất đau đớn trong lòng quyết định tìm một người hiểu biết để tham mưu. Qua sự tiến cử của Từ Thứ, vị Hoàng Thúc đã ba lần đến lều cỏ và cuối cùng gặp Gia Cát Lượng. Gia Cát Lượng thấy con người này thành khẩn khiêm nhường, bèn nói cho Lưu Bị về tình hình thiên hạ lúc ấy. Gia Cát Lượng nói: “Tuy Tào Tháo là kẻ thù chính để khôi phục lại nhà Hán, nhưng hắn lại có mấy chục vạn quân, ép thiên tử, lệnh chư hầu, quân nhà Hán không thể giao tranh chính diện với quân Tào Tháo được. Phía Giang Đông họ Tôn đã giữ ở đấy ba đời rồi, địa thế hiểm yếu, lòng dân đã quy phục , nhân tài lại đông đảo. Người chỉ có thể tới liên hợp với họ mà không thể đánh chiếm người ta được”. Nghe đến đây, Lưu Bị hơi suốt ruột. Gia Cát Lượng còn chỉ vào địa đồ nói : “Lại còn Kinh Châu Ích Châu là hai nơi đang đợi quân nhà Hán chiếm lĩnh. Kinh Châu Bắc giáp Hán Thủy, Miện Thủy, phía Nam thông với biển, Đông liền nước Ngô, nước Hội, Tây giáp Ba Thục, đấy là đất dễ thủ mà khó công. Người chiếm dữ hai nơi này đều không có tài tranh hùng thiên hạ. Lưu Biểu ở Kinh Châu tầm nhìn nhỏ hẹp, đố kỵ với tài năng, không làm gì nên chuyện. Lưu Chương ở Ích Châu cũng ngù ngờ bất lực. Những bầy tôi hiện đang chờ minh chúa đến”. Lời của Gia Cát Lượng làm cho Lưu Bị yên lòng. Từ đó Lưu Bị trên đường chinh chiến, có Gia Cát Lượng ở bên phò tá nên sự nghiệp bước sang giai đoạn có mục đích có kế hoạch.

        Trước khi mời được Gia Cát Lượng, Lưu Bị đánh trận nào thua trận ấy, đến chỗ dừng chân cũng chẳng tìm ra. Tìm nguyên nhân của nó mới hay rằng căn bản ở chỗ tuy rằng ông ta lòng nuôi chí lớn (khôi phục nhà Hán) nhưng tầm nhìn hạn hẹp, trong đầu óc không nghĩ đến toàn cục. Gia Cát Lượng sở dĩ phán đoán chính xác vì lòng ông nghĩ đến toàn cục, tầm nhìn xa rộng, đầu óc sáng suốt. Có sẵn cái tài trí thông minh như Tôn Tử nói là “lấy toàn cục mà tranh thiên hạ”. Mới hay rằng tầm nhìn và lối nghĩ đúng là mấu chốt của thắng lợi.

        Hoạt động kinh tế cũng vậy, tuy kinh doanh một hạng mục cụ thể, nhưng nó lại chịu sự chi phối, chế ước của nhiều loại nhân tố phức tạp. Bởi thế, làm kinh tế cũng như người chỉ đạo chiến tranh, phải có tầm nhìn rộng, và luôn nghĩ đến toàn cục.

        Hãng GM của Hà Lan là hãng chuyên bán thiết bị chăn nuôi bò sữa. Do khối thị trường chung Châu Âu khống chế sản lượng sữa khiến cho hàng hóa của hãng bị ế ẩm tồn đọng, tiền đồ của công ty lao đao. Năm 1980, hãng  mời Braueur ra làm giám đốc. Vì Braueur là con một nông dân nên rất thấu hiểu nguyện vọng của nông dân là giảm giá thành, giảm được khoản đầu tư đắt đỏ về nhân công. Braueur nhận định rằng kết hợp kỹ thuật điện tử với thao tác chăn nuôi vắt sữa cổ truyền sẽ là lối thoát cho sản phẩm của hãng. Thế là ông bất chấp sự nguy hiểm là có thể bị thôi việc, mua hẳn một xí nghiệp điện tử đang sắp phá sản, quyết tâm nghiên cứu thiết bị chăn nuôi và vắt sữa bằng điện tử. Do số hộ nuôi bò giảm sút đi mỗi năm hàng vạn hộ, các cổ đông kịch liệt phản đối kế hoạch này và không đầu tư một xu nhỏ nào. Những khó khăn đó đẩy Braueur đến chỗ tuyệt vọng. Trong khó khăn, ông nhìn thấy sự thay đổi của nghề nuôi bò ở Hà Lan. Thí dụ năm 1964, số hộ nuôi bò sữa là 16 vạn, đến năm 1985 còn lại 54000, giảm đi 2/3, thế nhưng số đầu bò sữa lại tăng lên gấp bội, số công nhân chăn bò lại giảm đi rất nhiều. Như thế có nghĩa là hộ nuôi bò không còn dựa vào chăn nuôi thủ công năng suất vốn rất thấp mà đang trông chờ thiết bị phục vụ chăn nuôi và vắt sữa có năng suất cao.

       Qua cố gắng gian khổ, sản phẩm mới rốt cuộc đã ra đời. Hàng loạt các thao tác thủ công của nghề nuôi bò, từ chăm sóc đến cho ăn, vắt sữa đều đã được máy móc của GM thay thế?. Sản phẩm của hãng rất được các hộ nuôi bò sữa đón nhận và cũng được các nước như Đức , Pháp , Anh, Trung Đông, Bắc phi, Đông Nam Á… tìm mua. Braueur đã thành công! Năm 1987, ông  mua luôn xí nghiệp này thành lập hãng sản xuất riêng của mình.

       Dựa vào sự chọn lựa chính xác và tầm nhìn xa rộng, Braueur đã chiến thắng hàng loạt khó khăn, kiên trì bền bỉ đi đến thắng lợi cuối cùng( xin xem thêm bài: “Người giàu & Người nghèo – Họ khác gì nhau ?”.

 

Chiêu 87. Lấy hoạn nạn làm lợi, lấy yếu thắng khỏe.

      Binh pháp Tôn Tử có nói: trong quân tranh, cái khó nhất là thông qua con đường quanh co khúc khuỷu để đạt tới mục đích gần, biến bất lợi thành có lợi. Hoạn nạn và có lợi, yếu và mạnh là những mâu thuẫn tồn tại phổ biến trong chiến tranh. Muốn thoát ra khỏi địa vị bất lợi, thì phải khéo biết tạo ra điều kiện, biến bất lợi thành có lợi, biến xấu thành ưu thế, từ đó mà chống địch giành thắng lợi. Hạng Vũ đánh chìm thuyền, diệt chủ lực quân Tần ở Cư Lộc; Hàn Tín bày trận ở Bối Thủy đại phá quân Triệu đều lấy hoạn nạn làm lợi, lấy yếu thắng mạnh cả. Rõ ràng hoạn nạn và lợi, yếu và mạnh chỉ là tương đối. Trong điều kiện nhất định , hoạn nạn có thể chuyển hóa thành thuận lợi, yếu có thể chuyển hóa thành mạnh. Điều then chốt là ở chỗ người chỉ đạo phải có đầu óc biện chứng, giỏi giang trong việc tìm ra nhược điểm của kẻ mạnh rồi sau nắm lấy để tìm cơ hội thoát ra khỏi địa vị bất lợi, chiến thắng kẻ địch .

      Trong cuộc chiến thương mại, xí nghiệp cũng thường đứng trước điều kiện bất lợi. Điều chủ yếu nhất là phải nắm chắc ba chữ sau đây:

      1.Toán – Nghĩa là tính. Phải bình tĩnh, mưu tính tỉ mỉ, tuyệt đối không để cho khó khăn hay kẻ địch mạnh hơn làm cho sợ hãi mụ mẫm rồi ngồi chờ chết hay manh động, làm liều.

Một nhà máy dệt lấy vải nhung kẻ làm mặt hàng chính. Do những năm gần đây nhu cầu thị trường thay đổi, hàng nhung kẻ nhiều nơi không còn thịnh hành nữa nên tiêu thụ khó khăn , sản phẩm tồn đọng. Nhiều nhà máy, thậm chí cả nhà máy lớn cũng lần lượt chuyển mặt hàng. Thế nhưng giám đốc của nhà máy nhỏ này lại rất bình tĩnh, không hoang mang lo lắng. Trước hết ông đi điều tra thị trường và tiến hành phân tích kỹ càng. Ông cho rằng , các nhà máy sản xuất nhung kẻ đều theo nhau bỏ mặt hàng này, thế tất sẽ làm cho nhung kẻ từ nhiều trở thành ít. Nhung kẻ ở vùng ven biển và một số các nơi trong nội địa quả là khó tiêu thụ, nhưng ở các nơi khác lại được coi là thứ hàng tiêu dùng cao cấp. Trong tình hình sản lượng giảm đi, thị trường tiêu thụ vẫn còn, vải nhung kẻ sẽ từ ế chuyển sang đắt hàng. Thế là nhà máy không bỏ nhung kẻ đồng thời tiến hành cải tiến kỹ thuật, nâng cao chất lượng sản phẩm, tăng thêm chủng loại. Kết quả là sản phẩm của họ vẫn tiêu thụ tốt, hiệu quả kinh doanh của xí nghiệp cũng tăng lên rất nhiều.

      2.Chữ “Kỳ”, là lạ. Tức là xuất kỳ binh, chuyển khó khăn thành thuận lợi, lấy yếu đánh mạnh . Trong binh thư cổ “Võ kinh tông yếu” có một câu thế này: Dùng số ít binh lính đánh lại một kẻ địch đông đảo,sử dụng kỳ binh là có lợi nhất”. Cuộc chiến trong thương mại muốn chuyển khó khăn thành thuận lợi, lấy yếu thắng mạnh cũng có lý lẽ đó.

       Một viên chức của Công ty bảo hiểm nước Nhật tên là Kupota Ichi Byo, sau khi về hưu chẳng biết làm gì, suốt ngày chỉ biết xem phim để giải trí. Qua một năm, ông cảm thấy cuộc sống ngày càng vô vị, muốn tìm công việc để giải khuây.

        Một hôm, Kupota Ichi Byo gặp một người quen, nhân lúc trò chuyện hàn huyên, người kia nói: “Có một căn nhà có thể mở cửa hàng, giá tiền rất rẻ, chỉ bằng một phần ba các nhà khác nhưng cả thành phố Jinkô không ai dám mua”. Kupota không hiểu bèn hỏi: “ Tại sao ?”.

        - Nghe nói căn nhà này từng xảy ra án mạng, hồn ma quỷ thường xuất hiện, u ám, đáng sợ, mọi người đều lánh xa – Người kia trả lời.

         Kupota suy nghĩ: “Trên đời này làm gì có hồn ma quỷ? Nếu ta mua ngôi nhà này, mở cửa hàng, xé toang bức màn bí mật về hồn ma quỷ có thể kiếm tiền tiêu”.

         Ít lâu sau, quả nhiên ông dùng một phần tiền dành dụm mua căn nhà ấy với giá rẻ. Bạn bè, người thân đều chế nhạo ông, cho là ông ngốc, sau này ai dám đến nhà ông chơi.

          Kupota phản bác lại: “Hãy chờ đấy mà xem!”.

         Thứ 6 ngày 13 tháng 11, cửa hàng ăn uống Kopota khai trương. Ngày hôm đó là ngày công ty hàng không Nhật Bản kỷ niệm một năm ngày xảy ra tai nạn lớn, là ngày mà người Nhật coi là ngày xấu nhất trong năm. Kupota lợi dụng tâm lý người ta tin thần sợ quỷ, cho là ngày hung không đi xa ra ngoài, đã diễn một màn kịch sống đặc sắc. Hôm đó ông mời 5 vị đạo sĩ đến lập một đạo tràng bắt ma đuổi tà. Các đạo sĩ mặc áo màu sặc sỡ, dùng loa phóng thanh phát ra những lời đọc kinh, lại đốt vàng mã, chiêng trống ầm ĩ cả đường phố, thu hút hàng ngàn người đến xem, cuối cùng từ trong nhà quỷ rước ra một chiếc kiệu. Trong kiệu có một vị thiên thần ngồi phù phép bắt ma quỷ. Hai đạo sĩ khiêng kiệu lắc lư, các dạo sĩ khác rút kiếm, biểu diễn động tác bắt ma trừ tà. Qua một vòng đã đã bắt hết ma quỷ ở trong ngoài nhà giải  đem đi nơi khác.

         Lễ khai trương nhà ăn cũng đặc biệt, có lời quảng cáo tập thể, có tin đăng trên báo rất là rầm rộ. Tin tức truyền đi làm mọi người chú ý, đua nhau đến xem ngôi nhà quỷ thực hư ra sao. Kupota đã chuẩn bị rất chu đáo từ trong ra ngoài, từ nội dung phục vụ đến chất lượng quán ăn. Nhờ vậy, cửa hàng này làm ăn khá hơn cửa hàng ăn gần đó, rất nhanh chóng nổi tiếng, ấn tượng về ngồi nhà quỷ dần dần mờ đi. Bảy năm sau, ông già Kupota trở thành một nhà triệu phú có 16 cửa hàng chi nhánh ở thành phố Jinkô, làm ăn ngày càng phát đạt. Ông nói: “Tôi ngày càng khỏe ra, càng trẻ ra so với bảy năm về trước”.

        3.Chữ chuyên – Tức là tập trung lực lượng, đột xuất trọng điểm. Trong “binh lược huấn – Hoài nam tử”nói:  “Nếu năm ngón tay luân phiên nhau đánh không bằng nắm lại cho một đấm; một vạn người luân phiên nhau tiến công không bằng một trăm người cùng đánh một lúc”.

         Những năm đầu thập kỷ 70 của thế kỷ trước, phần lớn sản phẩm trang phục Daewoo phải thông qua môi giới Nhật mới vào được thị trường Mỹ, nên tiền lời kiếm chẳng được là bao.

         Kim Woo Joong, ông chủ Daewoo không hài lòng,ông muốn được trực tiếp buôn bán với Mỹ , bèn quyết định chọn mục tiêu chính để tấn công là siêu thị slop, trung tâm siêu thị lớn nhất thế giới. Các công ty xuất khẩu ở Hàn Quốc nghe tin Kim Woo Joong muốn chen chân vào thị trường siêu cấp ở Mỹ thì đều lắc đầu ái ngại. Nhưng ông lại cho rằng trong lãnh vực tiêu thụ , những mảnh đất trống không có ai quan tâm đến chính là thị trường béo bở nhất, những nơi mà người ta chẳng ai dám đặt chân , đó chính là lối đi rộng rãi nhất. Kim Woo Joong tự nhủ, mở cảnh cửa ngôi nhà Slop không phải việc quá khả năng của ông, chỉ cần dám mạo hiểm một phen.

         Danh tiếng của Daewoo sẽ lan khắp nơi, đồng thời lợi nhuận xuất khẩu chắc chắn tăng cao, nếu được hợp đồng với trung tâm siêu thị Slop. Nhưng Kim Woo Joong hiểu rõ rằng: Các đại công ty cũng như những cửa hàng có tầm vóc quốc tế dĩ nhiên không thèm trực tiếp mua bán với Daewoo, bởi một điều là Daewoo bấy giờ chưa có nhiều tiếng tăm ngay cả ở Hàn Quốc, chứ đừng nói đến là trên thế giới.

         Có công mài sắt có ngày nên kim, Kim Woo Joong hạ quyết tâm liên tục gõ cánh cửa lớn của Slop, cho đến khi nào mở được mới thôi. Ông triệu tập các thành viên để bàn bạc đường lối triển khai. Có người khuyên ông nên nhờ đến môi giới, lại có người đề nghị phương cách tấn công xâm nhập từ từ ở vùng ngoài trước khi nhập cuộc.“Tự mình phải chọn đối tượng khi muốn lấy vợ. Cô dâu mới về nhà chồng phải chào bố mẹ chồng trước. Tôi sẽ tự làm việc này. Chiếc ghế lạnh lẽo nào mà chẳng nóng lên khi ta cố gắng ngồi thật lâu” – ông tự nhủ.

         Thế là Kim Woo Joong đem ngay hai phụ tá bay sang Mỹ, sau khi đã định xong chiến thuật tác chiến. Vừa rời sân bay, cả ba đi thẳng đến bộ phận lễ tân của siêu thị Slop. Vừa bước vào cửa, Kim Woo Joong vội đưa ngay tấm danh thiếp cho nhân viên tiếp tân, trình bày lý do rồi rút từ từ trong túi ra một cái áo khoác được đóng gói thật đẹp, bắt đầu thao thao giới thiệu. Kết quả như ông dự đoán trước… là không thành công. Qua hôm sau, ngay vừa lúc mở cửa, Kim Woo Joong lại đến quầy tiếp tân với mẫu hàng khác. Ông quyết định sẽ kiên trì, không chịu lùi bước nếu không đạt được mục đích đã đề ra.

         Suốt mấy ngày liền không ngơi nghỉ, ý chí và lòng kiên nhẫn của Kim Woo Joong đã làm lay động trái tim người tiếp tân siêu thị Slop. Kết quả thật mỹ mãn , Slop đã đồng ý nhận bán thử sản phẩm thời trang của Daewoo.

         Ước mơ đã thành sự thật, sản phẩm của công ty Daewoo cuối cùng đã có chỗ đứng trong siêu thị Slop. Từ đó Slop bắt đầu trực tiếp quan hệ thương mại với công ty Daewoo của Kim Woo Joong. Chỉ trong vòng một năm kim ngạch sản phẩm mà công ty Daewoo đã bán cho siêu thị Slop tăng lên gấp mấy mươi lần.

         Và rồi, trang phục Daewoo nhan nhản khắp nước Mỹ. Một số nước khác cũng tiến hành ký kết hợp đồng thương mại với Daewoo. Sản phẩm thời trang Daewoo đã nhanh chóng chiếm lĩnh thị phần các nơi trên thế giới.

 

Chiêu 88. Bại được thắng được – Lỗ được lãi được.

          “Thắng bại là chuyện thường tình của nhà binh” đã thành câu danh ngôn ai ai cũng biết. Những “tướng quân thường thắng” chủ yếu tồn tại ở các tác phẩm văn học, còn trong lịch sử chiến tranh thì thực ra ít thấy .Một nhân vật quân sự kiệt xuất đã từng tổng kết khái quát: Thất bại, chiến đấu;lại thất bại, lại chiến đấu, cho đến thắng lợi.

         Lưu Cơ là quân sư đời nhà Minh trong “bách chiến kỳ lược” chuyên môn viết về “chiến bại”. Ông cho rằng : “Phàm là đánh nhau với địch, nếu nó thắng thì ta bại, không có gì mà sợ. Phải nghĩ cái lợi trong hại, rồi sắm sửa khí giới, khích lệ quân lính, chờ cho địch mệt mà đánh, thì sẽ thắng”.

         Lưu Cơ đã lấy ví dụ Trương Phương thời Tây Tấn chinh phạt Trường Sa Vương Tử Mã Ngung để nói lên đạo lý của kẻ chiến bại. Thời Tây Tấn vì tranh cướp chính quyền , Hà Gian Vương sai đại tướng Trương Phương đánh Tử Mã Ngung là Trường Sa Vương đang trấn thủ Lạc Dương. Tử Mã Ngung sai Hoàng Phổ Thương ra nghênh chiến. Hoàng Phổ Thương bị đánh bại, Trương Phương thừa thắng đánh vào Lạc Dương .Tấn Huệ đề cử Tử Mã Ngung ra ứng chiến và tự đến đốc chiến ở trận tiền. Tướng sĩ của Trương Phương thấy xe ngự của nhà vua liền luống cuống chân tay, không còn lòng dạ nào đánh được nữa, bèn thụt lùi lại phía sau. Trương Phương không có cách gì ngăn lại. Tử Mã Ngung thừa thế cho quân lên chém giết. Trương Phương thua to. Quân sĩ chết và bị thương vô số.

        Trương Phương rút khỏi Lạc Dương, rút ra đến cầu Tam Thập Lý thì hạ trại .Các thủ hạ thân tín nói với Trương Phương rằng : Quân đội qua một lần bại trận , đã mất nguyên khí, nên nhân lúc đêm tối mà trốn đi. Trương Phương  nói : “Thắng bại là chuyện thường tình của nhà binh”. Cái đáng quý nhất là ở chỗ chuyển được bại thành thắng. Đối phương thắng ta chưa hẳn đã nhờ vào thực lực, mà là nhờ sự xuất hiện của nhà vua , làm chúng ta trở tay không kịp. Bây giờ chúng ta chỉnh đốn lại quân đội, nhân khi địch đang ăn mừng thắng lợi, xuất kỳ bất ý đánh vào chúng. Thế là Trương Phương lại đem quân nhờ màn đêm áp sát thành Lạc Dương. Tử Mã Ngung vừa mới thắng lớn, cho rằng Trương Phương đã sớm trốn chạy rồi, không ngờ đối thủ lại đã chấn chỉnh giáp mã quay lại cổng thành. Về mặt ý chí chiến đấu Tử Mã Ngưng do lo sợ mà đã mất đi một nửa, thế nên qua trận này Trương Phương thắng lớn và đi đến toàn thắng.

         Trong chiến tranh, thắng lợi cuối cùng thường thuộc về những người không sợ thất bại. Trong thất bại phải bật dậy, trong thất bại tổng kết mình. Cho nên thất bại không đáng sợ .Cái đáng sợ là trong thất bại mất đi ý chí chiến đấu.Thắng lợi cố nhiên là đáng quý, nhưng điều đáng quý hơn là tinh thần bật dậy trong thất bại và giành lấy thắng lợi cuối cùng.

         Làm doanh nghiệp cũng cần có tinh thần vừa lãi được mà cũng vừa lỗ được! Kinh doanh trong xí nghiệp thì có lãi có lỗ. Thua lỗ không đáng sợ, điều đáng sợ là làm một nhà  kinh doanh sau khi thua lỗ không dám ngóc đầu lên. Nhà doanh nghiệp lỗi lạc của Nhật, ông chủ hãng Sony đã khái quát bước đường đã qua của mình bằng mấy chứ “Bảy lần ngã, tám lấy dậy”;. Kỳ thực con đường mà ông đã đi qua đúng là một quá trình “bảy lần ngã tám lần dậy”.

         Ngay từ ngày còn là thực tập sinh trong ngành điện, ông chủ hãng Sony lúc ấy đã rất hăng say nghiên cứu. Một lần đi dạo quanh thị trường, ông nghe thấy mấy bà nội trợ bàn tán với nhau, cái bệ cắm điện bây giờ chỉ dùng riêng lẻ được thôi, rất là bất tiện. Từ trong câu chuyện đó, ông đã tìm ra được nhu cầu của thị trường và làm ra hàng mẫu của cái ổ cắm nhiều đầu. Khi ông đề nghị với chủ hãng lúc đó, lại bị ông ta từ chối. Sự vô lý của ông chủ đã xui khiến ông quyết tâm tự lập . Vào năm 1917, khi ông 22 tuổi đã cùng với vợ và mấy người bạn thân thuê một căn phòng nhỏ thành lập ra “tổ hợp chế tạo đồ điện”. Loạt sản phẩm đầu tay là ổ cắm điện ba chạc đưa ra thị trường rất được hoan nghênh. Họ đã giành được sự thành công. Vậy nhưng, ngày tốt đẹp không lâu. Khi trào lưu chủ nghĩa quân quốc của Nhật Bản nổi dậy, phát động chiến tranh với nước ngoài, ông chủ Sony bị tố cáo là tài phiệt, bị cấm chỉ không được buôn bán chính ngạch với nhà nước. Việc kinh doanh của ông bị đả kích nặng nề. Họa vô đơn chí, khi ông và bè bạn vất vả lắm mới gom được ít tiền xây dựng xưởng máy mới không bao lâu, một trận bão đã hủy hoại toàn bộ gia tài lưng vốn. Đứng trước những đòn công kích từ bốn phía, ông Sony không bị quật ngã. Những tai họa ấy không đẩy ngã được ông. Bằng nghị lực kiên nhẫn ông đã qua được cơn khốn khó, để xí nghiệp và kinh doanh vẫn tiếp tục duy trì. Tiếp sau đó là thời kỳ thịnh vượng.

        Làm doanh nghiệp chớ nên coi thất bại là điểm cuối của sự nghiệp, mà chỉ nên coi nó là một quãng đường vòng trên con đường đi lên. Tìm ra sai sót sẽ thấy mình trở nên thông minh hơn, phát hiện ra manh mối của thành công tức là tìm thấy chiều hướng đi lên. Xin xem thêm bài: “Thất bại – thì đã sao?  )

  • Phan Đăng Media 

(Tài liệu sử dụng:

“Chiến quốc sách trong kinh doanh”

“Dám ước mơ”

 Báo “Kinh tế nông thôn cuối tuần”).

Ảnh : Internet

 

Tin cùng chủ đề

Có thể bạn quan tâm