HỘI KHOA HỌC PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC - NHÂN TÀI VIỆT NAM - TP. HỒ CHÍ MINH

HARVARD – Một Góc Nhìn

 

  • Phan Đăng Media 

 

       Harvard, ngôi trường đại học dạy kinh doanh hàng đầu thế giới,niềm ao ước của gần như tất cả những ai muốn khởi nghiệp kinh doanh làm giàu trên trái đất này, một biểu tượng của nước Mỹ dưới góc nhìn của một Du học sinh châu Á.

 

* Harvard, Một ngôi trường không có cổng.

 

       Đó là khác biệt đầu tiên gây bất ngờ cho hầu như tất cả những ai lần đầu tìm đến ngôi trường này.

       Dường như không có ranh giới rõ ràng ngăn cách giữa trường Harvard với thế giới bên ngoài. Tại đây không có cổng lớn, không có nhân viên bảo vệ với nhiệm vụ đóng mở cổng theo quy định, quanh trường cũng không có hàng rào hoặc các bức tường bao. Chắc chắn không phải là do nhà trường không có kinh phí để xây dựng mà vì Harvard đã và đang không ngừng mở rộng. Việc có thêm cổng lớn hoặc hàng rào chỉ khiến cho công việc mở rộng đó gặp nhiều phiền phức hơn mà thôi. Ngôi trường đầu tiên được xây dựng vào năm 1636 chỉ bằng một góc của trường Harvard hiện nay. Sau hơn 300 năm phát triển, trường Harvard hiện nay đã là một phần của thành phố Cambrige và đang ngày càng được mở rộng hơn.

       Những người luôn coi trọng thực tế ở Harvard không hề quan tâm nhiều đến việc có hay không có một chiếc cổng trường, và vì thế trong trường Harvard của chúng tôi lại có thêm cảnh tượng khác: Dường như ngày nào cũng có những người khách du lịch lần đầu tiên đến đây hỏi những người xung quanh rằng: Trường Harvard ở đâu? Từ năm thứ nhất đến năm thứ tư, năm nào tôi cũng phải trả lời câu hỏi này của họ.

Text Box: “Dường như ngày nào cũng có những người khách du lịch lần đầu đến đây hỏi rằng: Trường Harvad ở đâu ?”

     Tuy không có cổng lớn và tường bao, nhưng mức độ an toàn của trường Harvard còn cao hơn gấp nhiều lần ở các trường học khác. Cứ vài mét trong trường lại có một máy điện thoại của “hệ thống đèn xanh an toàn” (Blue Light Emergency). Ban giám hiệu nhà trường cũng đã nói rằng: Chỉ cần có cảm giác không an toàn thì bạn hoàn toàn có thể sử dụng hệ thống điện thoại cảnh báo này. Cảnh sát sẽ có mặt trong vòng hai phút sau khi nhận được điện thoại của bạn và có sự giúp đỡ cần thiết, kể cả đưa bạn về tận nhà.

       “Cảnh sát có đến nhanh như thế nào thì cũng không bằng không xảy ra chuyện gì cả!”, bố mẹ tôi vẫn cảm thấy lo lắng. Để giúp bố mẹ yên tâm hơn, tôi đã gọi điện về nhà và giải thích cặn kẽ, tỉ mỉ về công tác đảm bảo an toàn cho sinh viên của trường Harvard.

       “Trường Harvard tuyệt lắm”. Tôi nói với bố mẹ. Để đảm bảo an toàn cho sinh viên, nhà trường đã đầu tư rất nhiều tiền cho công tác an ninh của thành phố Cambridge. Sự phối hợp giữa các khu dân cư, nhà trường và cảnh sát đều rất tốt. Giá nhà đất ở đây cũng rất đắt đỏ nên những người không có mức thu nhập cao và ổn định khó mà tồn tại được ở thành phố này. Cùng với việc độ an toàn ngày càng được nâng cao thì giá nhà đất cao cũng khiến cho tình trạng phạm tội ở đây giảm rõ rệt.

       Cho dù như vậy thì tôi cũng luôn cố gắng để không phải đi một mình ra ngoài vào buổi tối. Vào năm học thứ hai, để tiết kiệm thời gian, tôi thường tranh thủ các cơ hội sau 12 giờ đêm, khi không có nhiều người chờ đợi hoặc thúc giục, để đến tòa nhà Trung tâm khoa học trong trường làm các bài tập về máy tính trên các dàn máy cao cấp của nhà trường. Tuy đôi khi làm bài đến tận 2,3 giờ sáng, nhưng lúc nào tôi cũng dặn trước với xe của nhà trường để đưa  mình về ký túc xá. Việc làm này của tôi khiến bố mẹ tôi vô cùng hài lòng. Tôi thành công cũng một phần nhờ những chiếc xe của nhà trường. Phải nói rằng xe của nhà trường đã phục vụ sinh viên vô cùng chu đáo. Trước 12 giờ đêm luôn có các xe chạy theo chuyến để đưa đón sinh viên, từ 12 giờ đêm đến 3 giờ sáng, bạn có thể hẹn trước để được phục vụ trên những chiếc xe nhỏ hơn. Cho dù chỉ có duy nhất một người hẹn thì xe của nhà trường cũng luôn đến đúng giờ. Từ 3 giờ sáng cho đến khi có xe chuyến của nhà trường, bạn có thể nhờ đến sự hộ tống của xe cảnh sát. Như vậy, Trung tâm nghiên Text Box: “Sở dĩ trường harvad luôn đảm bảo được vị trí dẫn đầu lâu dài ở nhiều lĩnh vực…, một phần lớn chính là nhờ ở tư tưởng tự do và mở rộng đó”cứu khoa học của trường gần như mở cửa 20 giờ mỗi ngày và 365 ngày trong một năm. Điều này thật sự đã mang lại một giá trị sử dụng rất lớn cho sinh viên.

      Cùng với việc học ngày càng trở nên chuyên sâu hơn, tôi cũng càng ngày càng cảm nhận rõ ràng hơn rằng “mở rộng” chính là đặc điểm lớn nhất ở Harvard. Không chỉ không có cổng và tường bao, trường Harvard cũng không có những vách ngăn cách với thế giới bên ngoài về học thuật. Sỡ dĩ trường Harvard có thể đảm bảo được vị trí dẫn đầu lâu dài ở nhiều lĩnh vực khác nhau và đào tạo được nhiều nhân tài được nhận giải Nobel như vậy, một phần lớn chính là nhờ có tư tưởng tự do và mở rộng đó.

 

* Bức tượng Harvard và những biểu tượng.

 

         Bức tượng đồng của Harvard là một bức tượng rất nổi tiếng ở nước Mỹ. Nghe nói đây là một trong bốn bức tượng có số lượng người tìm đến và chụp ảnh lưu niệm nhiều nhất ở nước Mỹ. Ba bức tượng còn lại là tượng Nữ thần tự do, tượng tổng thống Linton và tượng tổng thống Franklin. Bức tượng đồng Harvard là bức tượng về người đầu tiên có công quyên tiền xây dựng trường này. Vị thạc sĩ của trường Đại học Cambridge này di cư đến Mỹ vào năm 1637, và đến năm 1638 thì mất vì bệnh phổi khi mới 31 tuổi. Trước khi mất, ông đã quyên góp 260 tấm bản đồ và một nửa gia sản của mình (hơn 700 đồng bảng Anh) để xây dựng một ngôi trường tại nơi mà mình di cư đến (thuở ban đầu, Trường Harvard vẫn chưa có tên, cả trường chỉ có một giáo viên và 9 học sinh). Để ghi nhớ công lao lập trường của John Harvard, những người dân nơi đây đã quyết định đặt cho ngôi trường này cái tên là Trường Harvard. Và để những học sinh cũng như mọi người nơi khác luôn luôn nhớ đến công lao to lớn của ông, họ đã mời những người thợ trước đây từng tạc tượng tổng thống Lincoln đến và yêu cầu tạc một bức tượng John Harvard màu xám, đặt ngay cạnh khu giảng đường lớn trong trường.

         Bức tượng Harvard được hoàn thành vào năm 1884. Không rõ từ khi nào, bức tượng được gắn liền với một truyền thuyết: Xoa tay vào bên chân trái của bức tượng  thì có thể mang nhiều may mắn. Truyền thuyết này giúp tôi nhớ lại cảnh náo nhiệt ở thành phố Thành Đô, khi mọi người chen nhau xoa tay vào bức tượng dê bằng đồng ở cung Thanh Dương và xoa tay vào chữ “Phúc” ở chùa Bảo Quang để cầu mong may mắn. Cũng giống như bức tượng trong cung Thanh Dương, bàn chân trái của bức tượng Harvard đã bị xoa nhiều đến nỗi trở nên bóng loáng như được bôi thêm một lớp dầu bóng. Xem ra cầu nguyện và mong chờ may mắn đã ăn sâu vào nếp nghĩ của rất nhiều người dân ở nhiều nơi khác nhau trên thế giới.

         Có ba câu chuyện khá kỳ lạ liên quan đến bức tượng đồng Harvard nổi tiếng này. Câu chuyện thứ nhất là hình dáng của bức tượng không giống với hình dáng thật của John Harvard. Nghe kể rằng, trước khi ra đi John Harvard đã không hề để lại một tư liệu nào có ảnh của ông. Những người thợ tạc tượng đành phải nhờ một học sinh ngồi làm mẫu để mô phỏng theo. Câu chuyện thứ hai là John Harvard – người quyên tiền thành lập trường đã bị khắc nhầm thành “Người sáng lập”. Câu chuyện thứ ba là thời gian khánh thành trường cũng bị khắc nhầm thành 1638, nghĩa là muộn hơn so với thực tế 2 năm.

         Lần đầu tiên đứng dưới chân tượng đồng Harvard, khi những ấn tượng đầu tiên và sự hài hước của ba câu chuyện thú vị kia qua đi, đọng lại trong tôi là một cảm giác: tuy xác thịt có mất đi nhưng tinh thần còn mãi mãi! Tuy chỉ sống được 31 năm ngắn ngủi, thậm chí lớp người hậu thế còn không thể tưởng tượng được dung mạo của ông như thế nào, nhưng tinh thần và linh hồn của John Harvard thì vẫn còn trường tồn mãi mãi. Câu chuyện về John Harvard lúc đó đã khiến cho rất nhiều người dân di cư khác thấy vô cùng cảm động và đến vài trăm năm sau, tinh thần của ông vẫn mãi mãi là nguồn cổ vũ, động viên các sinh viên trong trường nỗ lực phấn đấu vươn lên. Nhà trường đã thành lập “Qũy Harvard” hoạt động trong nhiều năm liền dưới sự điều hành của rất nhiều chuyên gia trong lĩnh vực tài chính. Tổng số tiền mà quỹ Harvard có được tính cho đến ngày nay là 19 tỷ đôla Mỹ.

         Với thực lực kinh tế lớn mạnh và ổn định như vậy, trường Harvard không chỉ có thể mời rất nhiều giáo sư đầu ngành đến giảng dạy mà còn có thể tuyển chọn được những học sinh xuất sắc nhất vào học tại trường. Trên thực tế, khi tuyển sinh, nhà trường chỉ xem xét đến những phẩm chất và sự ưu tú của bạn chứ không hề quan tâm đến việc bạn có đủ năng lực tài chính để trả tiền học phí hay không . Chỉ cần bạn đủ tiêu chuẩn để được nhận vào học, trừ những khoản mà bạn có thể đóng góp, thiếu bao nhiêu nhà trường sẽ trao học bổng cho bạn bấy nhiêu (học bổng được trao theo hình thức: miễn giảm học phí + việc làm thêm trong trường + tiền trợ cấp).

 Nghe nói rất nhiều nguồn học bổng của Mỹ cũng được tạo nên theo hình thức này. Một trong những động cơ kiếm tiền của các sinh viên học tại trường Harvard là để có tiền đóng góp cho những qũy từ thiện như thế này: dùng khoản tiền do chính mình kiếm được để đền đáp lại xã hội, đền đáp lại ngôi trường đã rèn luyện cho mình. Một trong những nguyên nhân để quỹ Harvard hoạt động tốt cho đến nay là sự điều hành, quản lý và sử dụng rất vô tư và hiệu quả.

        Phía dưới bên trái của bức tượng Harvard có khắc biểu tượng của nhà trường: ở trung tâm của một biểu tượng hình tròn bằng đồng là ba hình tam giác tượng trưng cho ba cuốn sách đang rộng mở, trên đó còn có 7 chữ cái Latinh: “VERYTAS” với ý nghĩa là “ CHÂN LÝ”. Đây chính là tôn chỉ giáo dục của trường Harvard. Tôn chỉ này được giải thích là: “Nhiệm vụ căn bản nhất của các trường đại học là theo đuổi chân lý, bản thân của chân lý chứ không phải là những trường phái dị biệt, thời đại hoặc lợi ích cục bộ khác”.Tôn chỉ này in sâu trong tâm trí của rất nhiều thế hệ học sinh của trường.

       Cũng giống như bức tượng đồng Harvard, biểu tượng của trường cũng được gắn liền với những câu chuyện có ý nghĩa sâu sắc. Theo sự giới thiệu về lịch sử hình thành trên trang web chính thức của trường thì biểu tượng này được thiết kế vào năm 1644, nhưng bản thiết kế lại bị bỏ quên trong bản chi chép biên bản cuộc họp của năm đó. Gần 200 năm sau đó, không hề có ai nhớ ra bản thiết kế đó cả. Đến năm 1836, thầy hiệu trưởng nhà trường mới phát hiện ra bản thiết kế này trong khi đang lục hồ sơ để chuẩn bị cho những hoạt động kỷ niệm 200 năm thành lập trường. Và lúc đó thì biểu tượng chân lý của nhà trường mới thực sự được “phục hồi sức sống”, được sử dụng làm mẫu để tạo ra rất nhiều món đồ lưu niệm đáng yêu. Rất nhiều sinh viên trong trường đã chọn cách in biểu tượng này cùng với những dòng chữ như “Bố” hoặc “Mẹ” lên những chiếc cốc sứ màu trắng để gửi tặng cho những người thân của mình. Tôi cũng đã chọn cách làm tương tự như vậy.

        Một điều thú vị nữa là trong biểu tượng của nhà trường khắc dưới bức tượng đồng Harvard và ở bản thiết kế ban đầu có hai cuốn sách mở và hướng lên phía trên, cuốn sách thứ ba gấp lại và hướng xuống dưới. Nhưng khi biểu tượng này xuất hiện ở rất nhiều địa điểm khác nhau thì cuốn sách gấp lại và hướng xuống dưới kia cũng được mở ra và hướng lên trên. Có hai cách giải thích cũng rất thú vị cho sự thay đổi kỳ lạ về biểu tượng của trường.

        Một cách giải thích là: Cuốn sách gấp lại và hướng xuống dưới kia biểu thị cho sự sợ hãi và tôn kính Thượng Đế của người thiết kế ra biểu tượng đó vào năm 1644. Nó cũng có nghĩa rằng con người không thể nắm bắt được hết những tri thức vô hạn do Thượng đế sáng tạo nên. Nhưng đến năm 1836, khi biểu tượng này được tìm thấy, màu sắc tôn giáo của Harvard trong những thời kỳ đầu đã hoàn toàn biến mất nên những người có trách nhiệm đã lật cuốn sách tượng trưng cho sự sợ hãi Thượng Đế kia lên. Với ý nghĩa rằng giáo dục và tôn giáo là hai mảng riêng biệt, không thể lẫn với nhau được.

        Cách giải thích thứ hai là: Những cuốn sách được mở ra có ý nghĩa là con người có thể thu nhận được rất nhiều kiến thức thông qua sách vở, còn cuốn sách gấp lại kia mang ý nghĩa, không phải tất cả kiến thức đều có ở trong sách vở. Cách giải thích này rất phù hợp với quan điểm học tập của gia đình tôi. Ngay từ khi tôi còn học phổ thông, bố mẹ tôi đã thường xuyên nói rằng: Học đi đôi với hành, kiến thức thực tiễn là vô cùng quan trọng. Tôi sớm đã có thói quen quan sát và suy nghĩ về cuộc sống, về những điều trong tự nhiên và xã hội. Thói quen đó mang lại cho tôi rất nhiều hứng thú. Và cũng chính thói quen đó đã giúp tôi nhanh chóng thích ứng được với cuộc sống, sinh hoạt và học tập ở Harvard.

        Nhưng, cách giải thích thứ hai không nêu được lý do vì sao cuốn sách gấp lại và úp xuống kia lại biến thành một cuốn sách mở ra và hướng lên trên? Phải chăng chính trường Harvard đã thay đổi quan điểm coi trọng những nghiên cứu và kinh nghiệm thực tế? Nhưng cảm nhận của tôi thì lại không giống như vậy. Một minh chứng trực tiếp nhất là trường Harvard rất ủng hộ sinh viên tham gia vào các hoạt động đoàn thể và mang tính thực tiễn, xã hội cao. Ngoài ra, bảng điểm chấm thi nghiên cứu sinh cũng luôn ưu tiên cho những sinh viên có kinh nghiệm thực tiễn phong phú. Nếu nghĩ rằng mỗi môn học đều có thật nhiều sách tham khảo, tôi sẽ giải thích ba cuốn sách mở ra và hướng lên trên đó là: Kinh nghiệm thực tiễn rất quan trọng, nhưng chúng ta cũng cần đọc hết những cuốn sách cần thiết…

        Đó là những điều được biết đến trong lịch sử, nhưng chúng cũng chưa hoàn toàn sát thực. Chúng chỉ phần nào làm cho trường Harvard của chúng tôi thu hút được nhiều khách du lịch đến thăm quan hơn mà thôi.

 

          * “Nhập môn” Harvard.

 

            Tuần lễ huấn luyện cắm trại ngoài trời chính là “màn ra mắt” đầu tiên của trường Harvard với những tân sinh viên như chúng tôi đã thật sự bước vào giai đoạn khởi đầu.

            Cũng giống như rất nhiều trường đại học khác của Mỹ, trường Harvard không bố trí lớp học cũng như thời khóa biểu cố định nên sinh viên không có kiểu kết bạn cùng lớp rất tự nhiên như ở nhiều nước khác. Vậy sinh viên ở Harvard làm thế nào để có thể quen biết, kết bạn với nhau và có cảm giác mình thuộc về một tập thể nào đó? Ban giám hiệu nhà trường đã mất rất nhiều thời gian và công sức để tìm được câu trả lời cho câu hỏi này.

            Để giúp các sinh viên đến từ khắp nơi trên thế giới làm quen với nhau, trường Harvard luôn tổ chức nhiều hoạt động mới lạ, hấp dẫn trong một tuần đầu tiên trước khi năm học mới chính thức bắt đầu. Các hoạt động đó có thể là phục vụ xã hội, thực nghiệm khoa học, cắm trại dã ngoại,…Một số hoạt động yêu cầu sinh viên phải nộp thêm tiền để tham gia như hoạt động cắm trại ngoài trời. Nếu tôi không phải là sinh viên thuộc dạng được nhận học bổng toàn phần thì tôi sẽ phải nộp hơn 400 đôla khi tham gia vào hoạt động cắm trại trước năm học. Ngoài ra còn một số hoạt động mà nếu tham gia, sinh viên sẽ được trả tiền lương như quét dọn các khu giảng đường, lớp học hoặc ký túc xá. Theo lời một chị lớp trên nói thì 8 tiếng đồng hồ lau dọn nền nhà hoặc làm việc vệ sinh toa –let tuy có vẻ vất vả, nhưng công việc dọn dẹp này mang lại cho những sinh viên mới nhập học rất nhiều điều thú vị, lại giúp họ có thêm nhiều bạn mới. Nhưng một điều đương nhiên là hoạt động được nhiều sinh viên hưởng ứng nhất vẫn là đi cắm trại ngoài trời.

            Khóa học mới của tôi có 1650 sinh viên, nhưng chỉ có khoảng hơn 400 người đăng ký tham gia cắm trại ngoài trời. Những người muốn tham gia hoạt động này đều phải đăng ký sớm để ban tổ chức có thể chọn lựa và sắp xếp. Không lâu sau, tôi nhận được thông báo tham gia hoạt động cắm trại ngoài trời miễn phí.

            Được gửi kèm theo bản thông báo đó là một danh sách rất dài những vật dụng cần phải chuẩn bị. Bản thân danh sách nêu rõ cần mang theo một số quần áo để có thể mặc khi nhiệt độ từ 0 – 35oc, nhiều tất và găng tay với độ dày mỏng khác nhau, với những chất liệu nào, mỗi loại bao nhiêu đôi,…Đúng là sự chu đáo theo kiểu Mỹ. Tuy vậy, khi báo cáo về công tác chuẩn bị đó, một số đồ dùng của tôi vẫn không được chấp nhận. Theo những gì mà tôi nhìn thấy thì những sinh viên mới khác tham gia vào hoạt động này cũng gặp rất nhiều khó khăn khi chuẩn bị đồ dùng như tôi. Mỗi người mang theo một ba lô nặng tối đa 25 kg. Trong bảy ngày sau đó, mỗi ngày chúng tôi đều phải cõng chiếc ba lô đó trên lưng và di chuyển một quãng đường núi dài khoảng 20km. Tôi chưa từng trải qua bất kỳ một hoạt động nào hao phí nhiều sức lực đến như vậy.

             Buổi tối hôm bắt đầu, tất cả những sinh viên tham gia cắm trại ngoài trời đều tập trung ngủ trên nền của tòa nhà lớp học. Chúng tôi được chia thành mười mấy nhóm, mỗi nhóm có mười mấy người.

Text Box: “Ngay cả trong giấc mơ tôi cũng không thể tưởng tượng được rằng hành trình cắm trại ngoài trời lần này của chúng tôi sẽ xuyên qua một rừng già núi thẳm thuộc địa phận nước Anh”            Chui vào trong chiếc túi ngủ cùng với những người bạn mới quen chúng tôi tận hưởng cảm giác như đang quay trở lại thời xa xưa, khi nằm ngủ trên nền nhà, tôi có cảm giác như đang mơ vậy! Thậm chí ngay cả trong giấc mơ thì tôi cũng không thể tưởng tượng được rằng hành trình cắm trại ngoài trời lần này của chúng tôi sẽ xuyên qua một rừng già núi thẳm thuộc địa phận nước Anh. Trong khu vực đó không có hổ dữ. Đoàn chúng tôi do hai sinh viên khóa trên đã được huấn luyện chuyên nghiệp dẫn đầu. Về nguyên tắc, chúng tôi sẽ phải tự lo liệu lấy tất cả mọi chuyện. Chỉ khi gặp nguy hiểm hoặc bị đi lạc với cả đội thì mới được nhờ đến sự giúp đỡ của hai sinh viên này. Cách sắp xếp như vậy vượt xa ngoài những kinh nghiệm sẵn có của tôi. Tôi cảm thấy rất lo lắng, nhưng rồi cũng dần bình tĩnh lại và ngủ thiếp đi cho đến khi được những người khác trong đội đánh thức.

           Trước khi xuất phát, đội trưởng nêu lên rất nhiều yêu cầu.  Những yêu cầu này tập trung ở tinh thần tập thể cao và ý thức bảo vệ môi trường. Điều này tạo cho tôi một ấn tượng vô cùng sâu sắc. Ví dụ: Làm việc trên tinh thần hợp tác, không để bất cứ một thành viên nào của đội đi lạc, vì chỉ cần một người đi lạc và phải yêu cầu trợ giúp là coi như cả đội đã bị thất bại. Khi đi đường tránh để không làm gãy những mầm non; lại phải bỏ ra một ngày để duy tu lại đoạn đường núi; chuyển những cây non mọc ngang đường đi chỗ khác. Mỗi người tự mang theo rác thải sinh hoạt hằng ngày của mình; nếu loại rác đó không mang theo được (như phân khi đi đại tiện) thì cần đào hố và chôn khi có thời gian rảnh, độ sâu của hố chôn phải đảm bảo để thú rừng không thể đào lên được. Hơn nữa khi đào hố chôn phân, bắt buộc phải dùng lá cây để thay cho găng tay để tránh ô nhiễm môi trường, nước có pha thuốc phải dùng hết, tuyệt đối không được đổ bỏ…Tóm lại, tất cả mọi người cần cố gắng hết sức để không để lại trên đường đi, trong rừng hay trên núi một dấu tích nào của mình. Còn một quy định nữa cũng mang tính thách thức khá cao là trước khi ngủ, tất cả mọi người phải treo những đồ ăn mang theo lên các cành cây cao, cách xa túi ngủ để tránh mùi thức ăn có thể dụ gấu rừng đến gần, gây nguy hiểm.

            Nhưng chúng tôi không gặp gấu rừng mà lại gặp rất nhiều phiền toái khác. Ngày đầu tiên của cuộc hành trình, dường như ông trời cố tình trêu đùa chúng tôi vậy.

            Khoảng 6km cuối cùng trong hành trình ngày hôm đó của chúng tôi là sườn dốc. Trong khu vực này có rất ít dấu vết của con người và hầu như không có đường đi. Tất cả mọi người đều cố gắng hết sức, giúp đỡ, hỗ trợ nhau. Phải vất vả lắm chúng tôi mới leo được đến đỉnh núi. Nhưng khi chúng tôi chưa kịp thở thì đột nhiên sấm chớp, rồi mưa ầm ầm kéo đến. Để tránh sấm sét nguy hiểm, chúng tôi đành phải hủy bỏ kế hoạch thi cắm trại trên đỉnh núi. Nhưng cho đến khi chúng tôi vừa leo xuống đến chân núi thì mưa lại tạnh hẳn. Mọi người vừa mệt vừa bực mình.Thật đúng là chuyện ông trời, thật không biết thế nào mà định trước.

           Nghỉ ngơi một lát, đội trưởng của chúng tôi vừa mệt vừa hô hào: “Nói đi chứ, mọi người nói gì đi chứ!” Nhưng chẳng có ai trong chúng tôi muốn nói gì vào lúc đó cả. Mọi chuyện đã rõ rành rành rồi, công sức đi cả một đoạn đường núi dài như vậy coi như mất không. Nhưng điều khó khăn hơn là chúng tôi sẽ phải thực hiện bù lại những hoạt động chưa làm được trong ngày hôm nay, nếu không sẽ không thể hoàn thành mọi việc theo  đúng kế hoạch đã định trước.Vì số lượng lương thực mang theo đủ cho số ngày quy định, nên nếu để lỡ mất một hành trình nào đó thì chúng tôi sẽ phải yêu cầu trợ giúp về lương thực, và như vậy cũng có nghĩa là đội của chúng tôi đã thất bại.

         Kêu ca trước khó khăn không phải là thói quen của tôi, vì sự kêu ca chỉ khiến cho tình hình càng thêm rối ren hơn mà thôi. Thói quen của tôi là dùng thái độ tích cực để đối phó với những khó khăn. Mọi chuyện đều có nghĩa được xem xét từ nhiều góc độ khác nhau và tốt nhất là chúng ta nên nỗ lực theo phương hướng nào đó tốt đẹp. “Được rồi, tôi sẽ nói trước!”. Tôi lấy tinh thần và phá tan không khí im lặng đó, “Tuy ngày hôm nay chúng ta đã bị mất không công, nhưng đó cũng không phải là điều tồi tệ. Trong tình cảnh phải tránh nguy hiểm của sấm sét khi ở trên đỉnh núi thì tốt nhất là chúng ta nên lựa chọn một phương án đảm bảo an toàn tuyệt đối. Nhìn từ một khía cạnh khác, khó khăn ngày hôm nay cũng đã làm cho sự trải nghiệm của chúng ta càng thêm phong phú hơn. Nếu chiến thắng được những khó khăn của ngày hôm nay thì chắc chắn chúng ta sẽ còn vượt qua được những khó khăn, cản trở khác lớn hơn nhiều lần!”.

        Bị tác động bởi sự lạc quan đó của tôi, mọi người dần dần hoạt bát trở lại. Đúng là nên làm như thế, nên hợp tác với nhau để cùng suy nghĩ và tìm ra giải pháp. Mọi người càng lúc càng sôi nổi hơn. Chúng tôi đã cùng nhau tranh luận tích cực, mọi khó khăn, trở ngại của ngày đầu tiên đều được bỏ lại sau lưng.

        Kinh nghiệm của ngày đầu tiên giúp chúng tôi không còn thấy sợ hãi trước khó khăn nữa và cũng giúp chúng tôi đoàn kết với nhau hơn. Sau này chúng tôi còn gặp thêm rất nhiều khó khăn khác nữa (vì thời tiết ở Mỹ trong mùa thu thường rất thất thường, nắng mưa bất chợt), nhưng chúng tôi đều hợp sức lại để tìm cách khắc phục. Khi đợt huấn luyện này kết thúc, mọi chúng tôi đều cảm thấy vô cùng tự hào, vì nhóm chúng tôi là nhóm duy nhất không có ai bị ốm vì thời tiết xấu và cũng không cần yêu cầu trợ giúp lần nào.

 

         *  Mọi người, ai cũng có điểm mạnh riêng.

 

          Sau đợt cắm trại ngoài trời kết thúc, việc đầu tiên của tôi khi trở về trường Harvard là đi tìm ký túc xá của mình và nhanh chóng tắm thật đã đời. Một điều ngạc nhiên thú vị là tôi phát hiện ra rằng tòa nhà Massachusetts mà mình đang ở là tòa nhà dành cho sinh viên mới, hoàn toàn khác biệt với các tòa nhà khác: Nó được xây dựng vào năm 1720 và đã được gần 300 năm tuổi, là tòa nhà có tuổi thọ cao thứ hai trong số tất cả các trường đại học trên toàn nước Mỹ. Trong tòa nhà nổi tiếng này, tầng 1 và tầng 2 là văn phòng của thấy hiệu trưởng và các nhân viên quản lý khác cùng phòng tiếp khách của sinh viên. Tầng 3 và tầng 4 là ký túc xá của sinh viên năm thứ nhất. Trong cuốn cẩm nang giúp sinh viên mới làm quen với môi trường sinh hoạt có giới thiệu rằng: Tòa nhà Massachusetts là tòa nhà dạng mở, có nhiệm vụ dùng để tiếp đón các đoàn khách đến thăm quan. Vì thế, những sinh viên được vào ở trong tòa nhà này đều đã qua nhiều lần tuyển chọn nghiêm ngặt. Theo thầy hiệu trưởng thì chỉ những sinh viên nào thể hiện rằng mình xứng đáng là học sinh của trường Harvard thì mới được tuyển chọn vào trong tòa nhà này.

         Nhớ lại khi còn ở trong nước, tôi đã điền vào bảng biểu điều tra về việc sắp xếp phòng ở cho sinh viên của trường Harvard. Bảng điều tra đó rất tỉ mỉ và chi tiết: Bạn muốn được ở trong gian phòng như thế nào? Đối với bạn, thế nào là một người bạn cùng phòng lý tưởng? Hãy thử hình dung về…Vì trường Harvard có tới 1650 sinh viên mới cùng vào ở trong hơn 10 tòa nhà nên không thể sắp xếp phòng ở dựa vào tính cách, sở thích, yêu cầu của sinh viên để giúp cho những sinh viên đến từ nhiều thành phố, vùng miền, bối cảnh văn hóa khác nhau có thể nhanh chóng thích ứng được với môi trường mới, thu ngắn khoảng cách giữa các sinh viên. Khi nhận được bản điều tra này thì cũng là lúc tôi đang vô cùng bận bịu với rất nhiều công việc khác nhau cho việc nhập trường nên chỉ có thể trả lời vội vàng như sau: “Tôi hy vọng sẽ được ở trong một gian phòng yên tĩnh, sạch sẽ, có một môi trường thuận lợi để học tập; Hy vọng những người bạn cùng phòng của tôi sẽ là những người không hút thuốc , không uống rượu, không nghiện ngập, là những người có phẩm chất đạo đức tốt, đến từ nhiều vùng văn hóa khác nhau, thân thiện và nhiệt tình để tiện việc giao lưu và học hỏi lẫn nhau. Nhưng tôi không thích những loại nhạc quá ồn ào”…Tôi cũng nói rằng từ khi bắt đầu đi học cho đến khi tốt nghiệp phổ thông, tôi đã có đến 6 năm sống trong ký túc xá của nhà trường, “Tôi tin tưởng rằng với lòng nhiệt tình, sự bao dung, tôi có thể làm bạn với tất cả mọi người”. Không ngờ rằng, nhờ điều đó đã giúp tôi được chọn là người được sống trong tòa nhà nổi tiếng này ngay từ những ngày đầu tiên.

         Tôi tìm thấy phòng của mình trên tầng 4 của tòa nhà Massachusetts. Ba người bạn dễ thương, xinh đẹp khác đang chờ tôi đến để chia giường ngủ. Trường Harvard có quy định rằng: những sinh viên mới đến khi được sắp xếp ở cùng một phòng phải chờ tất cả các bạn cùng phòng đều có mặt thì mới được chia giường, chia phòng. Những người đến trước không được chọn vị trí thuận lợi nhất cho mình. Điều này thể hiện rất rõ nguyên tắc công bằng ( nếu suy xét đến cùng thì quy định này giúp cho chúng tôi tránh lãng phí thời gian vào những tranh luận không cần thiết). Và tôi thật là may mắn khi bốc thăm được một gian riêng biệt. Người bạn bốc được gian phòng đi qua sảnh lớn cũng tỏ ra rất vui mừng, vì đó chính là gian phòng rộng rãi nhất. Tôi vội vàng đi lấy hành lý của mình, rồi nhanh chóng tắm rửa để gội sạch bụi đất tích tụ qua cả một tuần cắm trại ngoài trời. Người bạn cùng phòng tên là Hannah ngỏ ý muốn cùng tôi đi lấy hành lý về, rồi hì hục giúp tôi vác chúng lên tầng 4. Cử chỉ thân thiện đó khiến tôi vô cùng cảm động.

       Trong khi vừa đi vừa nói chuyện, tôi biết được rằng ba người bạn cùng phòng với mình đều đến từ các vùng miền khác nhau trên đất Mỹ. Hannah là người Do Thái, bạn ấy đến từ bang California; Dorothy là con lai giữa người da đen và người Philippin bang Texas; còn Caroline lại là một bạn da trắng đến từ bang Maine. Bố mẹ của các bạn ấy hoặc là bác sĩ, hoặc là giáo viên, hoặc là người quan tâm đến giáo dục và xã hội. Các bạn đều có tín ngưỡng và nền văn hóa riêng nhưng lại đều có một điểm chung là tất cả đều coi trường Harvard là ngôi nhà thứ hai của mình. Mẹ Hannah đã từng tốt nghiệp ở Harvard; chị gái của Caroline cũng đã tốt nghiệp ở Harvard còn Dorothy thì có đến hai người anh trai cũng đang là sinh viên của Harvard. Mẹ của bạn ấy thật đáng khâm phục, vì sống độc thân và không giàu có nhưng vẫn  nuôi dạy được cả ba người con của mình trở thành sinh viên của một trường đại học nổi tiếng.

       Còn rất nhiều sinh viên khác coi trường Harvard như ngôi nhà thứ hai của mình. Họ tự hào vì trong gia đình họ đã từng có người theo học và tốt nghiệp ở Harvard. Tôi cũng lấy làm tự hào, vì tuy không có được những thuận lợi như họ, tôi chỉ nhờ vào sự chỉ bảo, dạy dỗ tận tình của bố mẹ, nhưng tôi đã được vinh dự trở thành sinh viên của Harvard như các bạn ấy ngày hôm nay.

       Nhưng những áp lực khách quan vẫn còn đang tồn tại. Với danh tiếng và nguồn tài chính dồi dào, trường Harvard hoàn toàn có thể chiêu mộ được các sinh viên xuất sắc nhất của nước Mỹ và trên toàn thế giới. Xung quanh tôi rất nhiều bè bạn đến từ nhiều vùng miền, lãnh thổ và các quốc gia khác nhau; nhiều người đã từng đạt được những giải thưởng lớn như huy chương vàng Olympic vật lý, giải nhất cuộc thi Piano quốc tế, thành viên đội tuyển bóng bàn quốc gia,…nhưng tôi lại chưa gặp một sinh viên nào dám đảm bảo rằng mình sẽ được nhận vào học tại đây trước khi nhận được thông báo chính thức của nhà trường. Ngược lại, mỗi khi gặp nhau, tôi thường nghe thấy rất nhiều sinh viên mới nói đùa với nhau rằng: “Liệu nhà trường có nhầm lẫn gì khi đưa tên mình vào danh sách sinh viên trúng tuyển không nhỉ?”.

      Một tờ báo đã gọi hiện tượng này là sự hoang mang. Điều này xảy ra khi các sinh viên mới nhập học cảm thấy đang phải chịu quá nhiều áp lức. Nhưng trong suy nghĩ của tôi thì áp lực và động lực lại có ý nghĩa giống nhau. Càng có nhiều áp lực thì tôi lại càng cố gắng nhiều hơn để hoàn thành mục tiêu đã đề ra.

      Trong suốt thời gian học tập tại trường, tôi còn gặp rất nhiều người bạn với những điểm mạnh, những ưu thế rất nổi trội khác.

      Học kỳ hai của năm học đầu tiên, tôi chuẩn bị một bài luận bằng tiếng Anh với chủ đề về những người vô gia cư. Vì đây là đề tài đề cập đến một vấn đề mang tính xã hội nên tôi đã nhờ một người giúp đỡ, phụ đạo cho mình. Người đó là Shara, một chị sinh viên năm thứ ba của trường, một nữ sinh nhỏ

nhắn và xinh đẹp. Sau khi nghe tôi trình bày ý tưởng, chị nói: “Đây đúng là một ý tưởng hay”…Sau đó chị đã đưa ra cho tôi một vài gợi ý, rằng vấn đề về những người vô gia cư không chỉ liên quan đến kinh tế, xã hội mà còn là vấn đề có liên quan nhiều đến chủng tộc và văn hóa.

        Tôi cho rằng những gì Shara nói đều rất có lý nên hỏi chị rằng: “Em có thể trích dẫn lời của chị vào bài luận của mình được không?”

        Các giáo sư dạy bộ môn viết luận trong trường Harvard đã nhấn mạnh với chúng tôi rằng: nếu có trích dẫn quan điểm của một người nào đó vào trong bài luận của mình thì đều phải giải thích rõ ràng đó là quan điểm của ai, ở đâu, nếu không thì sẽ bị coi là đạo văn hoặc phạm tội xâm phạm đến quyền tác giả ở một mức độ nào đó. Những ai mắc vào lỗi này chắc chắn sẽ cảm thấy rất xấu hổ, nhưng quan trọng hơn là còn có thể phải chịu phạt. Nếu lỗi do vô ý thì sẽ bị trừ điểm bài làm, nhưng nếu đó là lỗi do cố ý thì có thể bị đình chỉ học tập một năm.

        Shara đã đồng ý với lời đề nghị của tôi. Và khi tôi hỏi chị ấy mang họ gì vì trước đó tôi chỉ nhớ tên mà không chú ý lắm đến họ của chị. Shara nói rằng chị ấy họ Gore. Để tránh viết nhầm, tôi đã cẩn thận hỏi lại rằng : “Có phải giống như họ của Phó tổng thống Al Gore hay không?”. Shara cười và nói: “Đúng vậy, tôi là con gái của ông ấy”.

      Nếu không vì để đảm bảo quyền tác giả của Shara thì có lẽ tôi sẽ không thể biết rằng mình đang được con gái của Phó tổng thống Mỹ giúp đỡ.

      Tiện đây, tôi cũng nói rằng cuộc bầu cử tổng thống Mỹ diễn ra khi tôi đang là sinh viên năm thứ hai. Đây cũng là một trong những sự kiện đã để lại cho tôi những ấn tượng sâu sắc nhất. Hẳn bạn đọc vẫn còn nhớ một chi tiết lạ lùng là tại cuộc bầu cử đó, sau khi đã tuyên bố Bush là người thắng cử, ủy ban bầu cử lại thông báo rằng vẫn chưa thể thống kê được chính xác số lượng phiếu bầu, vì phải kiểm tra lại toàn bộ phiếu bầu của bang Florida. Cho dù có cơ hội hiếm có như vậy và Gore nhận được sự ủng hộ của rất nhiều cử tri nước Mỹ thì đây cũng là lần đầu tiên trong lịch sử nước Mỹ, kết quả bầu cử có sự trái ngược giữa số phiếu của nhân dân và số phiếu của những người đại diện các bang. Nhưng cho dù như vậy thì chức vị tổng thống Mỹ cũng đã tuột khỏi tầm tay của bố Shara.

      Trong cuộc sống còn rất nhiều sự kiện khiến chúng ta phải cảm thấy rằng: “Mưu sự tại nhân, thành sự tại thiên”. Câu thành ngữ này của Phương Đông khiến tôi liên tưởng đến một câu ngạn ngữ  của phương Tây: “Hãy làm những việc bạn nên làm và hãy giao tất cả những việc còn lại cho Thượng đế”. Bố mẹ tôi cũng rất thích một câu nói có ý nghĩa tương tự: “Chỉ cần tận tâm tận lực làm mọi việc thì sẽ không có điều gì để ân hận cả”. Những câu nói này nhắc nhở những người trẻ tuổi đang khao khát lý tưởng rằng: Hãy  tích cực và độ lượng khi xem xét, nhìn nhận quá trình và kết quả phấn đấu của mỗi người. Có thể nhận thấy rằng: tư tưởng, quan niệm của phương Đông  và phương Tây có nhiều điểm rất tương đồng.

 

      * Không có chỗ cho sự kỳ thị.

 

           Trong “Tuần lễ dành cho sinh viên mới” được tổ chức vài ngày sau khi năm học mới bắt đầu, nhà trường vẫn giúp cho những sinh viên mới chúng tôi làm quen với môi trường và bạn học mới qua nhiều hình thức khác nhau.

Text Box: “Hãy làm những việc bạn nên làm và hãy giao tất cả những việc còn lại cho Thượng Đế”          Sau buổi lễ khai giảng năm học là phần “Đăng ký tham gia hoạt động ngoại khóa”. Các tổ chức đoàn thể xã hội của sinh viên trong trường liên tục đăng tuyển thành viên mới trong vài ngày liền. Mỗi tổ chức đoàn thể có một chiếc bàn lớn, trên đó có ghi tên của tổ chức và vô số tài liệu có liên quan khác. Có tổ chức kêu gọi quyên góp để lấy tiền hỗ trợ cho các em thiếu nhi phải làm phẫu thuật vì hở hàm ếch; có tổ chức lại mời các những doanh nhân thành đạt đến nói chuyện với các bạn sinh viên, có tổ chức trình bày mô hình của  mình giống như một Liên hợp quốc thu nhỏ. Đi đến góc nào trong sân trường, tôi cũng thấy tràn đầy những màu sắc tươi vui, ấm áp, tinh thần và nhiệt huyết tuổi trẻ sôi nổi lan tỏa khắp nơi.  

         Buổi tối hôm khai giảng là vũ hội hữu nghị dành cho sinh viên mới. Chiều ngày hôm sau, chúng tôi lại được xem bộ phim “Love Story” lấy bối cảnh quay là trường Harvard, đến buổi tối lại là một “lễ hội kem”,… Trong những ngày đó, chúng tôi đều bận rộn làm quen với môi trường và cảnh quan ở đây, tìm hiểu và quen dần với nơi ăn cơm, nơi giặt đồ, mua hàng hóa, nơi khám bệnh và các giảng đường. Đồng thời, chúng tôi cũng cố gắng làm quen với nhau thật nhiều. Những sinh viên mới như tôi mỗi ngày đều phải trả lời rất nhiều lần các câu hỏi như: Bạn tên là gì? Bạn đến từ đâu? Bạn đang sống ở khu nhà nào? Bạn dự định sẽ học những môn gì? Sau này tôi mới phát hiện ra rằng: chúng tôi không thể nhớ được các bạn mới với cách làm quen như vậy và chỉ quen biết với những người mà mình có dịp gặp lại và nói chuyện thêm, nhiều lần nữa.

         Tôi có nhiều người bạn ở trường đại học Harvard. Tuy màu da, tính cách của họ không giống nhau nhưng họ đều có trái tim nhân ái  và ý thức về trách nhiệm của mình đối với xã hội, đồng thời  cũng luôn cố gắng nỗ lực trong học tập.

         Không ít bạn đọc đã hỏi rằng tôi có phải chịu một sự kỳ thị nào đó khi ở Harvard hay không? Nếu nói một cách thẳng thắn thì ngay khi mới đặt chân vào trường tôi cũng đã rất lo rằng sự nhiệt tình bề ngoài liệu có che giấu một sự khinh rẻ bên trong hay không? Vì thế, tôi đã hỏi cô bạn Dorothy mang hai dòng máu Á Phi điều này. Khi còn nhỏ, vì sợ sự kỳ thị, phân biệt chủng tộc nên Dorothy đã rất tự ti vì nước da đen của mình. Sau rất nhiều nỗ lực, thì cô cũng tự thấy yêu quý dòng máu da đen đó và cảm thấy tự hào vì mình là một người da đen. Cứ như vậy, cô dễ dàng giành được sự tôn trọng từ phía những người khác và không còn lo lắng về sự kỳ thị, phân biệt chủng tộc nữa.

Text Box: “Nếu chính bản thân bạn cũng coi thường nguồn gốc và tổ quốc của mình thì làm sao những người khác có thể tôn trọng bạn được?”       Câu chuyện của Dorothy khiến tôi có sự đồng cảm sâu sắc. Khi đến thăm nước Mỹ lúc còn là học sinh năm thứ hai bậc trung học, tôi cảm nhận được là: Nếu chính bản thân bạn cũng coi thường nguồn gốc và tổ quốc của mình thì làm sao những người khác có thể tôn trọng bạn được? Muốn có được sự tôn trọng của những người khác thì trước hết bạn phải luôn cảm thấy tự hào về nguồn gốc và tổ quốc của mình. Tôi chính là một người như thế. Tôi không bao giờ để ý đến sự kỳ thị hay phân biệt chủng tộc. Trường Harvard là nơi quy tụ sinh viên từ rất nhiều quốc gia trên toàn thế giới, trong số đó có nhiều quốc gia còn lạc hậu hơn đất nước chúng tôi. Học tập ở đây, tôi và những người bạn của mình đã có được sự quan tâm chân thành nhất của rất nhiều người đến từ các quốc gia, các vùng miền văn hóa khác nhau.

        Tại một trường học tôn trọng sự đa nguyên hóa như Harvard thì sự kỳ thị chính là một trong những hành động bị lên án nhiều nhất. Tôi nghe nói, vào năm 1848, khi sự kỳ thị và phân biệt chủng tộc còn khá nghiêm trọng, ở Harvard đã từng xảy ra sự kiện các học sinh da đen vào học. Những sinh viên tham gia cuộc biểu tình đã uy hiếp rằng họ sẽ “bỏ học” nếu nhà trường vẫn nhận bạn sinh viên da đen kia. Khi đó, hiệu trưởng trường Harvard đã bình tĩnh nói với họ rằng: “Nếu sinh viên da đen kia vượt qua được kỳ thi đầu vào thì bạn ấy sẽ được nhận vào học. Nếu các em bỏ học thì số tiền học phí mà các em đã nộp cho trường sẽ được sử dụng làm chi phí giáo dục cho bạn sinh viên da đen đó”. Tại Harvard là như vậy, bạn có thể không thích hợp một người nào đó, không tiếp xúc, trò chuyện, “kính nhi viễn chi” với họ, nhưng bạn sẽ không được phép có hành động kỳ thị nào đối với họ, nếu không chính bạn mới là người sẽ gặp phiền toái. Từ rất lâu rồi, trong lịch sử nhà trường đã từng có những “Hội huynh đệ” do những sinh viên thuộc hàng triệu phú lập nên và làm theo truyền thống cũ kỹ là kỳ thị những sinh viên nữ. Nhưng ngày nay, hành vi kỳ thị giới tính như vậy đã bị cấm tuyệt đối trong các hoạt động của trường Harvard và thực sự nó đã không còn đất sống.

 

* Hoạt động ngoại khóa: Rèn luyện kỹ năng làm việc theo nhóm và làm lãnh đạo.

 

          Trong tuần hoạt động ngoại khóa của các sinh viên mới, khi chúng tôi được đi thăm xung quanh trường và có những sự tư vấn cần thiết thì tổ chưc xã hội của sinh viên với muôn ngàn màu sắc khác nhau đã khiến tôi vô cùng phấn chấn. Hay là mình cũng cùng một vài bạn khác lập nên một nhóm như thế, để tất cả đều được thử sức mình trong một vai trò mới nhỉ? Rất nhiều ý nghĩ, dự định xuất hiện trong đầu tôi. Nhưng lúc đó, khi tôi đi đến gần khu HPAIR (Dự án Harvard - Quan hệ hợp tác giữa Châu Á và thế giới), sức hấp dẫn ở đây quả thực đã vượt xa những gì mà tôi từng tưởng tượng.

          HPAIR là một tổ chức của đoàn thanh niên trong trường, được thành lập vào năm 1992, hoạt động dưới sự chỉ đạo của Trung tâm nghiên cứu châu Á và Trung tâm nghiên cứu Đông Á của trường. Mỗi năm HPAIR đều tổ chức một buổi hội nghị thường niên tại một quốc gia châu Á. Các đơn vị đăng ký tham gia buổi hội nghị này thường là các tổ chức giáo dục nổi tiếng hoặc các học sinh, sinh viên xuất sắc, những người được cho là các tài năng, lãnh tụ còn đang tiềm ẩn của quốc gia đó. Mỗi kỳ hội nghị đều bàn đến 6 vấn đề quan trọng  trong tiến trình hội nhập là kinh tế, chính trị, khoa học kỹ thuật, văn hóa, giáo dục và phát triển. Những nhân vật được mời đến nói chuyện tại các kỳ hội nghị đều là những chuyên gia, học giả và các chính trị gia nổi tiếng thế giới. Trước và sau khi tôi tham dự vào HPAIR, đã có Thủ tướng Malaisia Mahathir Bin Mohamad, Tổng thống Hàn Quốc Kim Dea - Jung, Tổng thống Singapore S. R. Nathan, Tổng thư ký Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á, đại sứ Mỹ cũng như hiệu trưởng của rất nhiều trường đại học nổi tiếng thế giới đã đến nói chuyện tại hội nghị này. Các chuyên gia, quan chức của Tổ chức Thương mại thế giới(WTO), Qũy tiền tệ quốc tế (IMF), Tổ chức hợp tác kinh tế châu Á Thái Bình Dương (AFTA), Ngân hàng thế giới (WB), Ngân hàng phát triển châu Á (AFB) đều nhiệt tình hưởng ứng và ủng hộ lời mời đến nói chuyện tại các hội nghị của Hpair. Chính sự có mặt của những nhân vật quan trọng, cao cấp  này đã đưa hội nghị thường niên của HPAIR trở thành một trong những hội nghị quốc tế quan trọng, và cũng là buổi hội nghị có tầm ảnh hưởng lớn nhất đến Hội nghị thường niên của sinh viên trường Harvard.

          Khi đó, HPAIR đang tuyển nhân viên trù bị cho “Hội nghị thường niên lần thứ 9 về vấn đề quan hệ giữa châu Á và thế giới”. Buổi hội nghị này sẽ được tổ chức tại Bắc Kinh vào mùa hè năm 2000, dự kiến có hơn 300 sinh viên của các trường đại học nổi tiếng đăng ký tham gia. Thật không ngờ, chỉ vừa đặt chân đến Harvard mà tôi đã được tham gia vào một cơ hội mang lợi ích, hiệu quả to lớn đến như vậy cho quốc gia mình, thật đáng tự hào! Càng nghĩ tôi càng thấy hứng thú và đã quyết định sẽ không tham gia vào Hội sinh viên tự lập như dự định ban đầu mà sẽ bắt đầu chính từ tổ chức HPAIR!

         Nhưng một điều tôi không ngờ đến là: Sinh viên muốn được tham gia vào HPAIR đều phải qua kỳ thi viết và phỏng vấn. Tại Harvard, chỉ có rất ít Hiệp hội sinh viên sử dụng cách này để chiêu mộ thành viên cho tổ chức của mình.

         Chủ tịch hội nghị lần này là một sinh viên năm thứ ba tên là Alex. Cậu ấy đã nói rằng rất muốn tuyển được những bạn là sinh viên các năm cuối hoặc các bạn nghiên cứu sinh tham gia hội nghị. Nhưng thật sự tôi rất muốn được tham gia với họ! Tôi rất muốn được tham gia vào hội nghị lần này. Không hề để ý đến sự không hào hứng chào đón sinh viên năm nhất của chủ tịch, tôi nhiệt tình đề nghị được thử sức một lần xem sao. Sau khi nhận được lá đơn xin tham gia , tôi đã suy nghĩ rất kỹ về ba vấn đề bắt buộc phải trả lời là: “Tại sao bạn muốn tham gia vào tổ chức của chúng tôi? Tại sao bạn lại muốn được tuyển vào vị trí đó? Bạn có kế hoạch phát triển công việc tại ví trí của mình như thế nào?” Sau khi cân nhắc kỹ càng, tôi đã viết câu trả lời của mình hết vài trang giấy gửi đi.

         Không lâu sau đó, tôi nhận được thông báo đi phỏng vấn. Chủ tịch hội nghị Alex nhướn đôi mắt sáng và thông minh lên nhìn tôi rồi hỏi: “Nếu có một bạn nào đó rất nhiệt tình mong được tham gia vào tổ chức của chúng tôi, nhưng bị chúng tôi từ chối. Anh bạn đó đã rất tức giận và gửi rất nhiều email đến để tranh luận và phản đối lại quyết định của chúng tôi. Nếu bản thân bạn phải đối diện với việc đó thì bạn sẽ xử lý như thế nào?” Tôi trả lời: “Trước hết tôi sẽ cảm ơn anh bạn đó về sự nhiệt tình của bạn ấy. Đằng sau sự tức giận của anh bạn ấy chính là sự coi trọng tổ chức của chúng ta. Sau đó, tôi sẽ nói với bạn ấy rằng: Nếu bạn có hứng thú và thời gian để tức giận chúng tôi đến như vậy thì tại sao bạn lại không dành hứng thú và thời gian đó để tuyên truyền cho những người khác về hoạt động của chúng tôi? Nếu bạn biến sự tức giận ấy thành lòng nhiệt tình, tôi tin rằng bạn sẽ làm rất xuất sắc”.

        Và thế là tôi được tham gia vào tổ chức của họ, trở thành một trong 14 thành viên của chủ tịch đoàn.

        Sau khi buổi hội nghị thường niên được tổ chức thành công, tôi đã hiểu vì sao HPAIR lại chọn phương pháp tuyển chọn thành viên gắt gao như vậy, bởi đó chính là sự nghiệp cần sự cống hiến hết mình và sự nhẫn nại, bền lòng. Để thực hiện được lý tưởng cũng như kế hoạch của HPAIR, những thành viên tham gia đều phải nỗ lực không ngừng và đầu tư rất nhiều thời gian, công sức. Đối với các sinh viên của trường Harvard thì thời gian vừa là sinh mệnh, vừa là tiền bạc lại vừa là những thành tích không dễ gì có được! Nếu chỉ là sự tham gia miễn phí hoặc cơ hội kết bạn đơn thuần thì e rằng khó có thể tìm được những người thật sự tâm huyết.

 

(*) Sinh viên có thể làm việc đến mức nào.

 

       Sau khi tham gia tổ chức HPAIR, tôi mới biết rằng chúng tôi đang phải đối mặt với hàng núi công việc cần chuẩn bị. Đây là buổi hội nghị diễn ra ở bờ bên kia của đại dương so với nơi chúng tôi đang học tập.Và tất cả các công việc cần thiết đều do 14 người chúng tôi lên kế hoạch và hoàn tất. Sẽ mời bao nhiêu khách? Mời những người như thế nào? Làm thế nào để điều chỉnh công việc với trường đại học sẽ tổ chức ở Bắc Kinh? Điều quan trọng nhất là chi phí để tổ chức hội nghị này cũng do chính chúng tôi dự trù và chuẩn bị. Trường Harvard chỉ giúp chúng tôi một việc duy nhất, đó là thầy hiệu trưởng nhà trường đã viết một bức thư giới thiệu để chúng tôi tìm kiếm các nhà tài trợ và mời các học giả đến nói chuyện.

      Người phụ trách các vấn đề về tài chính của hội nghị lần này là một nữ sinh năm thứ ba đến từ Hồng Kông. Bạn ấy và những người có liên quan ngày nào cũng phải tra tìm thông tin trên tờ “Nhật báo phố Wall” để tìm xem những công ty nào có khả năng sẽ đầu tư vào châu Á thì sẽ lập tức gửi thư, gọi điện thoại cho họ để nói về ý nghĩa quan trọng của buổi hội nghị mà chúng tôi sắp tổ chức. Chúng tôi cũng đảm bảo với họ rằng, nếu công ty nào tài trợ từ 30 nghìn đôla Mỹ trở lên thì có thể cử đại diện của công ty đó đến tham dự và phát biểu tại hội nghị, nhưng nội dung bài phát biểu đó không được là một quảng cáo trực tiếp mà phải phù hợp với chủ đề chính của hội nghị. Chúng tôi đã phấn đấu như vậy trong một năm trời, liên hệ với hàng trăm công ty khác nhau. Số tiền cuối cùng mà chúng tôi nhận được qua danh sách đăng ký của các công ty đó là hơn 100 nghìn đôla.

       Chủ tịch HPAIR giao cho tôi phụ trách việc liên hệ với các cơ quan thông tấn, báo chí đồng thời được tham gia vào việc tuyển chọn các sinh viên xuất sắc nhất từ các nước để tham dự buổi hội nghị quan trọng này. Chúng tôi cùng nhau phân công công việc, tất cả mọi người cùng nhau thành lập một trang web, gửi email đến cho các bạn sinh viên xuất sắc của các nước muốn tham gia hội nghị; Đồng thời mời các quan chức cao cấp đến cùng tham gia. Làm việc chung với tôi là rất nhiều các bạn sinh viên người Hoa khác. Đã từng có một câu nói rằng: “Khi ở ngoài lãnh thổ Trung Quốc thì một người Trung Quốc là một con rồng, nhưng hai người Trung Quốc gặp nhau thì sẽ là hai con sâu”. Thế nhưng chúng tôi đã phối hợp làm việc cùng nhau rất tốt, mọi việc đều diễn biến đúng như kế hoạch đã định.

       Mùa hè thứ nhất, vì muốn được ở lại làm tiếp các công việc chuẩn bị cho buổi hội nghị, đồng thời tham khảo tất cả quá trình chuẩn bị cho một buổi hội nghị quốc tế quan trọng nên tôi đã tranh thủ nhận công việc giúp việc cho một giáo sư nghiên cứu kinh tế nổi tiếng của trường. Mỗi tuần tôi làm việc 40 giờ, tiền lương mỗi giờ là 10 đôla nhằm kiếm tiền trang trải sinh hoạt phí cho mấy tháng hè. Đó cũng là cơ hội tốt để tôi học tập và thực hành thêm. Đồng thời với việc đó, tuần nào tôi cũng làm việc cùng HPAIR trong khoảng hơn 40 giờ.

        Mùa hè năm 2000, chúng tôi cùng bay đến Bắc Kinh để chuẩn bị những khâu cuối cùng cho hội nghị.

       Để tiết kiệm chi phí cho hội nghị, số tiền ăn ở tại Trung Quốc từ trước đó hai tháng của chủ tịch đều do bạn ấy tự chi trả. Tôi cũng trả tiền thuê phòng ở của mình trong một tuần ở đây. Trong suốt thời gian diễn ra hội nghị, các vị khách mời đều được nghỉ và ăn theo tiêu chuẩn khách mời tại khách sạn năm sao, còn những người tổ chức  như chúng tôi đều ăn theo suất ăn của người phục vụ trong nhà bếp. Thế nhưng tất cả đều vui vẻ, không hề có một tiếng kêu ca nào. Theo dự toán của chúng tôi thì cứ tiết kiệm được 500 đôla Mỹ là sẽ có thêm một bạn sinh viên từ một nước đang phát triển nào đó có thể đến tham gia hội nghị. Ngoại trừ tiền vé máy bay, tất cả chúng tôi đều không chi thêm cho mình bất kỳ một khoản nào. Điều này đã khiến cho cha mẹ tôi vô cùng cảm động.

      Ngày 28 tháng 7, “Hội nghị nghiên cứu – thảo luận lần thứ 9 về quan hệ của châu Á và các nước khác trên thế giới” đã được khai mạc trọng thể tại phòng hội nghị của khách sạn Trường Thành. Hơn 300 bạn học sinh, sinh viên đại diện cho hơn 30 khu vực và quốc gia trên thế giới đã đến và ngồi kín phòng hội nghị, cùng nhau bàn bạc xoay quanh chủ đề “Vị trí, vai trò của một châu Á phát triển năng động đối với toàn thế giới trong thế kỷ 21”. Chúng tôi đã tiến hành trao đổi, bàn bạc, giao lưu trong 4 ngày.

      Năm 2001, chúng tôi tổ chức thành công hội nghị HPAIR lần thứ 10 tại Singapore. Phía nhà nước Singapore đã coi đó như một sự kiện có tầm cỡ quốc gia. Tổng thống Singapore khi đó là Nathan đã có một bài phát biểu rất xúc động trong ngày bế mạc hội nghị. Trong bài phát biểu đó, ông đã hồi tượng lại thời trai trẻ và những năm tháng chiến tranh trong cuộc đời mình, đồng thời biểu dương HPAIR đã khơi lại những động lực cho sự phát triển của châu Á và sự hòa bình, ổn định trên toàn thế giới.

      Ngày 15 tháng 8 năm 2002, hội nghị lần 11 của HPAIR đã được khai mạc trọng thể tại thành phố Sydney, Australia. Điều này có nghĩa là địa điểm tổ chức hội nghị đã được chuyển dần từ một nước ở châu Á đến một nước ở bên kia Thái Bình Dương. Chủ đề hội nghị lần này là “Nhìn nhận châu Á dưới góc độ truyền thống và sự thay đổi”. Hội nghị đã thu được những thành công tốt đẹp. Các vị quan chức cao cấp của nhà nước Australia cũng đã có mặt và có bài phát biểu quan trọng trong buổi lễ bế mạc hội nghị.

            Có thể nói rằng tham gia vào tổ chức HPAIR chính là một trong những quyết định quan trọng nhất của tôi trong thời gian học tập tại Harvard. Việc đó không những cho tôi cơ hội được phục vụ tổ quốc  mà còn cho tôi thời cơ để phát huy những tiềm năng của mình. Trong quá trình hoạt động cùng HPAIR, các năng lực cũng như tố chất tổng hợp trong tôi đều được rèn luyện và nâng cao hơn rất nhiều. Tôi đã học được từ những hoạt động đó biết bao điều bổ ích, có thêm rất nhiều bạn mới. Tuy đến năm thứ tư thì tôi không còn hoạt động trong HPAIR nữa, nhưng những ấn tượng tốt đẹp và tình cảm chân thành đó thì vẫn còn mãi mãi.

 

          (*) Bồi dưỡng “Con người toàn diện”.

 

          Cũng giống như các sinh viên khác, tôi nhận được một cuốn sách trong tuần hoạt động ngoại khóa đầu tiên. Trong cuốn sách có đầy đủ thời gian và địa điểm của các môn học có trong trường dành cho sinh viên chính quy, nghiên cứu sinh. Chúng tôi được phép lựa chọn 4 môn trong rất nhiều môn học hấp dẫn, thú vị đó.

            Một sinh viên chính quy sẽ phải học ít nhất là 32 môn học tại Harvard trong suốt thời gian 4 năm. Các môn học được chia thành: 8 môn lý luận cơ bản, 16 môn chuyên ngành và 8 môn đào tạo chuyên sâu. Lý luận cơ bản là những môn học bắt buộc đối với tất cả sinh viên, bao gồm 7 lĩnh vực lớn là: Văn hóa nước ngoài, Văn học nghệ thuật, Nghiên cứu lịch sử, Đạo đức, Suy luận toán học, Phân tích xã hội khoa học. Mỗi lĩnh vực đều có hơn 10 giáo trình khác nhau để sinh viên lựa chọn. Khi tôi học năm thứ tư, để sinh viên được tự do hơn trong việc lựa chọn môn học, nhà trường đã thay đổi từ 8 môn lý luận cơ bản xuống còn 7 môn.

Text Box: “Lý luận cơ bản” là thành quả nghiên cứu của trường Harvard từ năm 1978 với mục đích là cải tiến hơn nữa phương pháp giáo dục người tài.”            “Lý luận cơ bản” là thành quả nghiên cứu của trường Harvard từ năm 1978 với mục đích là cải tiến hơn nữa phương pháp giáo dục người tài. Nhà trường cho rằng, điều quan trọng nhất trong thời gian học tập chính quy trong trường không phải là đào tạo cho sinh viên trở thành những chuyên gia, nhân tài trong một lĩnh vực, ngành nghề nào đó mà bồi dưỡng trở thành những con người toàn diện. Cho dù sau này sinh viên có phát huy sở trường của mình ở đâu đi chăng nữa thì họ cũng sẽ được định hướng để đạt được những mục tiêu dự kiến sau đây thông qua việc học tập các môn lý luận cơ bản này:

1. Có thể tư duy và vận dụng viết luận một cách sáng tạo, hiệu quả.

2. Có những hiểu biết nhất định về chuyên ngành nào đó.

3. Có những hiểu biết lý tính và năng lực thẩm mỹ để cảm nhận được về vẻ đẹp của văn học, nghệ thuật.

4. Có thể nhìn nhận các vấn đề hiện thực bằng phương pháp lịch sử và tiến trình phát triển của lịch sử loài người.

5. Có thể sử dụng được các khái niệm  và phương pháp phân tích của khoa học hiện đại.

6. Nắm vững các phương pháp tính toán và phương pháp thực nghiệm vật lý học và sinh vật học.

7. Có những kiến thức nhất định và kinh nghiệm thực tiễn, tư duy với những vấn đề thuộc phạm trù đạo đức.

8. Có kinh nghiệm giao tiếp xã hội rộng rãi.

 

            Tôi cảm thấy rất thích thú với những môn lý luận cơ bản của trường Harvard. Tôi cho rằng việc nhà trường yêu cầu sinh viên khoa văn phải nắm được kiến thức cơ bản của các môn khoa học tự nhiên và toán học có thể giúp các sinh viên này tăng thêm sự nhạy cảm với các môn khoa học xã hội, tránh hiện tượng “Học gạo, học lệch”. Cũng giống như vậy, việc yêu cầu sinh viên thuộc các chuyên ngành khoa học tự nhiên nắm được các kiến thức cơ bản của các môn văn học nghệ thuật, lịch sử, giáo dục công dân sẽ tránh được hiện tượng họ trở thành “những người  máy chỉ biết về kỹ thuật mà không hề biết thưởng thức nghệ thuật, thiếu đi những kiến thức nhân văn và sự cảm thụ cuộc sống”. Trên thực tế, sau khi chế độ về những môn học lý luận cơ bản tại trường Harvard được ban bố đã thu hút sự quan tâm của đông đảo sinh viên Mỹ và các nước trên thế giới. Những lợi ích của việc học các môn lý luận cơ bản này là rất rõ ràng, vừa đảm bảo được kiến thức nền tảng vững chắc, vừa cho phép sinh viên được tự do lựa chọn, vừa mang tính hệ thống lại vừa mang tính  hợp lý, có tác dụng nâng cao tố chất cho sinh viên. Ngày nay, phương pháp này cũng trở thành mô hình giảng dạy của hấu hết các trường đại học khác trên toàn nước Mỹ.

            Các sinh viên năm thứ nhất của trường Harvard không được học tập theo đúng chuyên ngành của mình. Nhà trường làm như vậy với mong muốn giúp sinh viên định hướng được rõ ràng về chuyên ngành mà mình thật sự hứng thú sau một năm được đào tạo và làm quen với mọi thứ về cơ bản. Chúng tôi bắt đầu lựa chọn một chuyên ngành học yêu thích của mình trong hơn 40 ngành đào tạo của trường từ đầu năm thứ hai  (nhưng sau khi chọn bạn vẫn có thể thay đổi được chuyên ngành học của mình nếu muốn). Mỗi một chuyên ngành đều có những yêu cầu được đào tạo chuyên sâu về một vài môn học khác nhau. Ví dụ: Nếu muốn trở thành bác sĩ, bạn sẽ học những môn bắt buộc về khoa học tự nhiên và sinh lý người như hóa học, sinh học. Tôi đã lựa chọn một chuyên ngành khá hóc búa là “Ứng dụng toán học vào kinh tế”. Chuyên ngành này được giới thiệu một cách đơn giản là “Lấy kinh tế làm lĩnh vực để ứng dụng các kinh nghiệm toán học để phân tích và giải quyết các vấn đề trong kinh tế”. Vì độ khó của các môn học bắt buộc thuộc chuyên ngành này khá cao nên đây được coi là một trong những chuyên ngành “nóng” nhất ở Harvard.

            Phương thức lên lớp giảng bài của các giáo sư ở trường Harvard cũng rất tự do. Nhà trường  thường xuyên kiểm tra đề cương của mỗi bài giảng trước khi giáo viên lên lớp, xem xem bài giảng hôm đó có giá trị về mặt học thuật hay không. Cuối tuần, sinh viên sẽ tự bình chọn và chấm điểm cho những bài học mà mình tiếp thu được trong cả tuần đó. Nhà trường sẽ tập hợp các ý kiến phản hồi của sinh viên lại và in thành một tập sách làm tài liệu tham khảo cho các sinh viên khóa sau khi lựa chọn chuyên ngành học của họ và cũng để giúp các giáo viên nâng cao trình độ giảng dạy của mình. Nhà trường cũng thông qua ý kiến đánh giá của sinh viên đó để tìm hiểu về phương thức dạy học phù hợp nhất của mỗi giáo viên, từ đó điều chỉnh lại sao cho việc dạy và học được hiệu quả cao hơn. Ví dụ: Khi một giáo viên nào đó được sinh viên nhận xét, đánh giá là “Giảng dạy không hay, nhưng hiệu quả các phần giao lưu khác lại rất tốt” thì nhà trường sẽ nhanh chóng tìm hiểu nguyên nhân, xem giáo viên đó có phù hợp với việc giảng dạy ở giảng đường lớn hay không, nếu không sẽ chuyển họ xuống dạy một lớp với quy mô nhỏ hơn. Cách làm đó của nhà trường khiến cho cả giáo viên và sinh viên đều cảm thấy rất vui vẻ.

 

          (*) Các môn học tự chọn, càng học càng thấy hứng thú.

 

          Học kỳ mùa thu và mùa xuân của năm thứ nhất, tôi đã lựa chọn 8 môn học là : Nhập môn viết luận, Sinh vật học hành vi của con người, Toán học,  Vật lý ứng dụng, Kinh tế vĩ mô, kinh tế vi mô. Vì tất cả các môn học đều do tôi tự chọn dựa trên hứng thú và sở thích của mình. Bài giảng của các thầy cô giáo lại vô cùng hấp dẫn nên càng học tôi lại càng thấy thú vị hơn. Giáo viên dạy môn Vật lý của trường Harvard, cũng là người lãnh đạo của nhóm các nhà khoa học nổi tiếng trên thế giới và đã có những sự phát hiện “phản vật chất” trong quá trình nghiên cứu của ông. Các bài giảng của ông đều có liên quan mật thiết đến cuộc sống thường ngày của chúng tôi, từ chiếc công tắc đèn, điện thoại di động, máy nghe đĩa CD, các thiết bị bảo vệ môi trường đến hệ thống định vị các vệ tinh của trái đất. Mỗi đề tài đều được đào sâu nghiên cứu, giúp chúng tôi nhanh chóng nắm bắt được các nguyên lý vật lý cơ bản nhất. Trong các giờ giảng của ông, chúng tôi đều được tiến hành rất nhiều thực nghiệm lý thú. Chính điều này đã khiến cho một sinh viên vốn yêu thích môn văn học từ những ngày còn ngồi trên ghế nhà trường phổ thông như tôi chuyển đổi sang học chuyên ngành vật lý.

            Các môn lý luận cơ bản mà chúng tôi học ở năm thứ tư như: “Mong ước của người dân ở thành phố và quy hoạch của thành phố” cũng đều mang lại những hiệu quả tương tự. Giáo viên dạy bộ môn này của chúng tôi là ông Alex Krieger – Chủ tịch nhóm thiết kế và huy hoạch thành phố. Ông đã chịu trách nhiệm thiết kế và quy hoạch rất nhiều thành phố trên toàn nước Mỹ. Trong khi giảng bài, ông cũng đưa chúng tôi đi tham quan thực tế nhiều địa điểm trong thành phố, các ý đồ huy hoạch thành phố phía trên và phía dưới mặt đất như thế nào đều được ông giảng giải cụ thể và dễ hiểu, sinh động. Vì rất hứng thú với môn học này nên tôi đã đề nghị được đi thăm thêm nhiều địa điểm khác nữa. Nhưng một điều đáng tiếc là vào mùa xuân năm 2003, có sự hoành hành của dịch SARS nên trường Harvard đã dừng tất cả các hoạt động có liên quan đến các vùng bị bệnh dịch. Vậy là kế hoạch đi thăm quan và tìm hiểu thêm nhiều thành phố khác của tôi đành phải hủy bỏ.           

            10 giờ tôi đến lớp, dành ra một chút thời gian trước giờ lên lớp để ôn lại bài cũ. Một vài môn học kéo dài liên tục từ 10 giờ sáng đến tận 3 giờ chiều và có khoảng nửa tiếng cho chúng tôi ăn trưa giữa giờ học. Bắt đầu từ năm thứ hai, tôi trở thành một “người phụ trách” (gần giống như phụ đạo) cho các bạn sinh viên năm thứ nhất mới vào trường nên tôi cùng ăn trưa cùng các bạn, vừa ăn vừa giúp họ giải quyết một số vấn đề thực tế. Sau giờ học buổi chiếu, tôi còn phải làm công việc phụ đạo cho một số bạn khác về môn toán. Sau khi trở thành trợ giảng, mỗi tuần tôi đều giành một khoảng thời gian tương đối để chuẩn bị bài và nhận xét bài tập của các bạn sinh viên. Sau đó tôi làm bài tập của mình, sắp xếp lại các phần đã ghi chép trong ngày. Khi tôi có thể nghỉ ngơi thì cũng là lúc 6 giờ tối.

            Thời điểm rỗi rãi nhất của tôi là lúc cùng ăn tối với các bạn sinh viên khác trong bữa ăn tự phục vụ tại nhà ăn của trường. Chúng tôi nói với nhau đủ thứ chuyện trên trời dưới biển, từ những vấn đề nổi cộm trong xã hội Mỹ đến những món ăn vặt ở thành phố quê hương tôi. Vì đến từ những vùng văn hóa khác nhau nên chúng tôi cũng có những cách nhìn nhận khác nhau về nhiều vấn đề và càng nói chuyện thì càng thấy thú vị. Vì thế, dù rất bận rộn nhưng tất cả mọi người cũng cố gắng giành thời gian để ăn tối cùng nhau. Sau khi ăn tối với các bạn thì cũng là thời điểm bận rộn nhất trong ngày của tôi. Buổi tối là lúc tôi hoàn thành tất cả các nhiệm vụ học tập trong ngày, giải quyết các hoạt động ngoại khóa như lên kế hoạch cho hoạt động của HPAIR, gửi thư cho các nhà tài trợ, viết báo cáo, làm tổng kết,…

            Vì hứng thú và trách nhiệm với công việc nên tôi rất ít khi đi ngủ trước 2 giờ sáng. Nếu không phải là một buổi sáng cuối tuần thì tôi luôn phải đặt đồng hồ báo thức để có thể thức dậy đúng giờ. Có nhiều đêm tôi thức quá khuya, đến sáng hôm sau lại có một bài kiểm tra quan trọng trên lớp nên tôi thậm chí đã phải gọi điện nhờ cha mẹ ở Thành Đô đánh thức bằng điện thoại. Lúc đó, tôi mơ mơ màng màng cầm điện thoại lên, nói chuyện với cha mẹ một vài câu rồi nhanh chóng thức dậy. Tất nhiên đó là lúc trong phòng tôi đã được trang bị thiết bị gọi điện thoại internet giá rẻ.

            Đó chính là một ngày trong cuộc sống thường nhật của tôi khi còn ở Harvard. Trong quãng thời gian bận rộn đó, vào dịp cuối tuần hay những ngày nghỉ lễ, chúng tôi cũng thường xuyên tổ chức những hoạt động vui chơi để thư giãn đầu óc, ví dụ: Cùng bạn bè đi dã ngoại, picnic, thưởng thức món ăn của Trung Quốc, Việt Nam, Thái lan, Italia,…, đánh bóng bàn, nghe nhạc, xem phim, đi khiêu vũ,…

            Tiện đây tôi cũng kể lại rằng ở trường Harvard thường xuyên có những buổi vũ hội với nhiều phong cách và mục đích khác nhau. Mục tiêu của nhà trường khi tổ chức những buổi vũ hội ấy là để giúp chúng tôi gần gũi nhau hơn và có cơ hội thư giãn sau những giờ học tập căng thẳng, đồng thời giúp sinh viên tự tin hơn trong giao tiếp xã hội. Nhớ lại quãng thời gian học tập tại đây, chúng tôi đều cảm thấy vô cùng háo hứng và thú vị.

            Nếu chỉ được dùng một câu khái quát lại toàn bộ quãng thời gian 4 năm học tập tại Harvard thì tôi sẽ nói là: Bận rộn nhưng vô cùng vui vẻ và thú vị.

 

Bốn điểm khác biệt lớn.

         

             Tôi không học một trường đại học nào khác ở Mỹ ngoài Harvard (phong cách giáo dục của các trường đại học ở Mỹ rất khác nhau) và cũng chưa từng học một trường Đại học ở châu Á, nên sẽ rất khó để so sánh. Nhưng có 4 điểm khác biệt mà tôi cảm nhận được rõ ràng nhất, xin kể ra để các bạn tham khảo:

            Thứ nhất là sinh viên đại học ở Mỹ có thể tự do lựa chọn môn học mà mình yêu thích. Các trường đại học ở Mỹ không có một kế hoạch giảng dạy chung cho cả trường. Việc giảng dạy ở những trường lớn và nổi tiếng cũng rất khác biệt so với các trường bình thường khác. Nhà trường sẽ đưa ra một hệ thống gồm rất nhiều các môn học khác nhau để sinh viên tự lựa chọn. Các môn học trong trường đáp ứng đầy đủ nhu cầu học tập của sinh viên. Sinh viên có thể lựa chọn môn học dựa theo sở thích, hứng thú, trình độ cũng như phương hướng nghề nghiệp trong tương lai.

            Thứ hai là sinh viên chính quy ở Mỹ không chạy theo thành tích một cách mù quáng. Những người Mỹ không có quan niệm truyền thống như là: “Sinh viên giỏi thì phải học lên thạc sĩ, tiến sĩ”. Sinh viên học tiếp lên thạc sĩ, tiến sĩ ở Mỹ chủ yếu thuộc các ngành học mang tính chất nghiên cứu như y khoa, công nghệ. Những sinh viên thuộc các ngành học năng động và tổ chức quản lý khác thường lựa chọn con đường “đi làm trước, sau đó mới học chuyên sâu thêm”. Các sinh viên ở Mỹ rất coi trọng việc sống tự lập sau khi ra trường cũng như cập nhật thêm các kiến thức xã hội khác. Theo thống kê, tại Học viện kinh tế và Học viện Pháp luật ở Harvard, độ tuổi trung bình của các nghiên cứu sinh là trên dưới 27 Text Box: “Nhận thức chung của tất cả mọi người là: “Sau vài năm làm việc mới hiểu rõ mình thật sự cần học thêm những gì, có như vậy mới không lãng phí thời gian và công sức học tập”tuổi và hầu như tất cả mọi người đều đã có những kinh nghiệm làm việc nhất định. Một số chỉ tiêu học nghiên cứu sinh trong các trường đại học cũng thường ưu tiên cho những người đã có kinh nghiệm làm việc. Nhận thức chung của tất cả mọi người là: “Sau vài năm làm việc mới hiểu rõ mình thật sự cần học thêm những gì, có như vậy mới không lãng phí thời gian và công sức học tập”.

            Theo tin của các phương tiện thông tin đại chúng thì những sinh viên Mỹ tốt nghiệp cùng khóa với tôi (năm 2003) có một số điểm khác biệt so với sinh viên tốt nghiệp của những khóa trước. Số lượng sinh viên lựa chọn con đường “học chuyên sâu trước sau đó mới đi làm đã nhiều hơn trước và đã tạo nên một con số kỷ lục về số lượng sinh viên tốt nghiệp đăng ký dự thi nghiên cứu sinh. Nhưng điều đó cũng không có nghĩa là những người Mỹ coi trọng bằng cấp hơn trước mà là do sự suy thoái và những khó khăn nảy sinh trong nền kinh tế. Một tác giả của tờ “Thời báo New York” đã chỉ ra rằng: Những sinh viên chính quy tốt nghiệp năm 2003 đang đối mặt với một thách thức trong việc tìm kiếm việc làm chưa từng có trong vòng 20 năm trở lại đây. Số lượng hồ sơ xin việc tại các bệnh viện ở Mỹ lần đầu tiên đã có sự tăng nhanh đột biến trong vòng 7 năm trở lại đây. Nguyên nhân chủ yếu của hiện tượng này là do các sinh viên chính quy chuyên ngành y khoa không thể tìm được việc làm sau khi ra trường. Vì nền kinh tế Mỹ liên tục có sự suy thoái và biến động nên số lượng thí sinh đăng ký thi vào đại học luật năm 2002 đã tăng lên 18%, đến năm 2003 lại tiếp tục tăng lên thêm 10% . Đồng thời, số lượng sinh viên đăng ký trở thành giáo viên để đi dạy học ở những vùng còn khó khăn của Mỹ có sự tăng vọt 300%. Thái độ “tìm kế sinh nhai trước phát triển sau” này mang rất nhiều đặc trưng riêng của nước Mỹ.

            Điểm khác biệt thứ ba là sinh viên chính quy tại Mỹ có rất nhiều cơ hội để tiếp cận với thực tiễn. Các trường đại học ở Mỹ đưa việc dạy học vào hoàn cảnh thực tiễn. Trường Harvard chính là một trong những điển hình của mô hình này. Thậm chí, như tôi đã nói ở trên, ngay đến một cánh cổng trường cũng không hề có. Chỉ cần bạn tích cực tham gia vào các hoạt động ngoại khóa thì mỗi năm bạn thu hoạch được rất nhiều kinh nghiệm làm việc. Điều này cũng góp phần chứng minh tố chất và năng lực của bạn để bạn không bỡ ngỡ khi xin đi thực tập vào năm thứ ba. Những sinh viên tích cực với những hoạt động ngoại khóa ở trường không bao giờ gặp phải vấn đề “không có kinh nghiệm làm việc”.

            Khi lựa chọn cơ hội để đi thực tập, các sinh viên Mỹ thường rất chú trọng đến việc duy trì sự điều tiết hợp lý giữa sức lực đầu tư cho công việc cũng như phương hướng phát triển sau này. Họ cũng thường tích lũy trước năng lượng cho những cuộc bức phá về sau. Ví dụ: Những người muốn trở thành học giả hoặc nhà khoa học trong tương lai thường đầu tư nhiều thời gian cho việc học tập. Khi đăng ký học lên thạc sĩ, tiến sĩ, bạn cần khiến cho các giáo sư có ấn tượng tốt với những thành tích học tập mà mình đã đạt được, có như vậy thì họ mới giúp bạn viết những bức thư giới thiệu đủ sức thuyết phục. Những người muốn trở thành doanh nhân thì lại không như vậy, họ cần đầu tư nhiều thời gian hơn vào các hoạt động khác trong xã hội. Vì thế yếu tố được coi trọng nhiều hơn khi đăng ký học MBA không phải điểm số mà là những năng lực thực tiễn mà bạn có được.

            Điểm khác biệt thứ tư là các sinh viên Mỹ có rất nhiều cách để tranh thủ làm việc, kiếm tiền. Trong thời gian học tập tại trường Harvard, tôi phát hiện ra rằng các sinh viên ở đây có rất nhiều cơ hội để xin được tài trợ cho các hoạt động xã hội khác nhau. Chỉ cần dự án mà bạn đưa ra có tiềm lực và giá trị thật sự và dễ quảng bá rộng rãi là sẽ có rất nhiều tổ chức khác nhau sẵn sàng giúp bạn thực hiện và mở rộng dự án đó. Vì thế, hoạt động ngoại khóa và hoạt động xã hội của các sinh viên Mỹ rất phong phú, hấp dẫn và năng động. Họ cũng có rất nhiều sáng kiến khiến mọi người phải kinh ngạc.

            Sinh viên châu Á nói chung rất ít khi có được những ý kiến sáng tạo như vậy. Đa số các giáo sư ở Mỹ đều cho rằng các sinh viên Á Đông có năng lực học tập rất lớn, thế nhưng tính chủ động, sáng tạo thì lại chưa đủ. Một trong những nguyên nhân của hiện tượng này là họ thiếu những cơ hội để tiếp cận và cọ xát với thực tế cuộc sống. Tôi thật sự hy vọng chúng ta sẽ nhanh chóng có được sự thay đổi trên phương diện này.

  • Phan Đăng Media 

                                       (Nguồn “Em muốn đến Harvard học kinh tế”)

Ảnh: Internet

         Một cựu hiệu trưởng của trường Harvard đã nói rằng: Nhiệm vụ quan trọng nhất của các giáo viên trong trường là dạy cho sinh viên biết cách tư duy. Những môn học mà tôi lựa chọn đều đã thể hiện rất rõ đặc trưng này của nhà trường. Ví dụ, ở năm học thứ hai, chúng tôi học môn “Một số suy luận về pháp luật và có liên quan đến pháp luật”. Môn học này thật sự rất giống với một sự rèn luyện tư duy ở trình độ cao. Chúng tôi đã được phân tích, tìm hiểu rất nhiều vụ án cực đoan khác nhau. Ví dụ: Một số người gặp nạn khi đang đi biển. Vài ngày sau, lượng lương thực dự trữ cạn dần. Đứng trước thảm cảnh tất cả mọi người sẽ bị chết đói giữa biển khơi, họ đã đưa ra một quyết định theo hình thức “dân chủ” (được đa số người tán thành) là ăn thịt những người ốm yếu trong đoàn để duy trì sự sống cho những người khác. Theo cách làm đó, một vài người trong đoàn đã sống sót và đi được đến bờ biển. Theo anh (chị), chúng ta có nên khép tội mưu sát người khác cho những người còn sống sót đó không? Vì chúng tôi đều có những suy nghĩ rất khác nhau về vấn đề này nên buổi thảo luận hôm đó đã trở nên sôi nổi. Quá trình nghe những sinh viên khác biện luận và bổ sung cho những sơ hở trong sự biện luận của mình đã giúp chúng tôi được rèn luyện nhiều về phương pháp tư duy, giá trị quan và những lý luận của mỗi người cũng được củng cố, rèn luyện thêm rất nhiều.

            Có thể nói rằng, mỗi một môn học mà tôi lựa chọn đều có sự hấp dẫn và đặc trưng riêng biệt. Nhưng cũng có những môn học mà tôi dù rất muốn cũng không thể theo được. Có những khi giờ lên lớp của chúng tôi bị in nhầm, đôi khi lại vì số lượng sinh viên muốn theo học quá đông nên chúng tôi lại phải bốc thăm để cho ra người được theo học.

            Năm học thứ hai, nhà trường mở thêm một môn học mới xem ra rất có liên quan đến nền điện ảnh đương đại của Trung Quốc: “Nhìn về một Trung Quốc hiện đại: Điện ảnh và văn hóa Trung Quốc”. Rất nhiều sinh viên cảm thấy thích thú với môn học này, và chúng tôi lại bốc thăm để xem mình có phải là người may mắn được theo học hay không), kết quả là tôi đã không được chọn. Tôi liền nhanh chóng lựa chọn các môn học khác để thay thế và nhận ra rằng môn văn học nước ngoài đang không có giờ lên lớp nào trùng với giờ lên lớp của các môn học khác của tôi.

            Khi đến học tập tại trường Harvard, tôi nhận ra rằng mọi người ở đây đều vô cùng coi trọng công tác giáo dục. Chúng tôi được các giáo sư nổi tiếng trực tiếp giảng bài (các bậc cha mẹ có con em là sinh viên chính quy trong nhà trường rất coi trọng việc con em họ có nhiều cơ hội được tiếp xúc trực tiếp với các giáo sư giỏi hay không. Khi lựa chọn môn học, tôi cũng thường ưu tiên cho những môn do các giáo sư nổi tiếng trong trường trực tiếp giảng dạy.

            Các giáo sư của trường Harvard mỗi năm thường dạy một môn học cho sinh viên chính quy, một môn học cho các nghiên cứu sinh. Đôi khi, do yêu cầu của công việc nghiên cứu nên họ cũng tạm dừng thời gian lên lớp của mình lại. Vì thế, không phải lúc nào sinh viên cũng có thể đến được với những môn học hay. Học kỳ hai của năm thứ hai, khi lựa chọn môn học, tôi phát hiện thấy có một môn mới rất thú vị là “Tâm lý học kinh tế”. Giáo viên môn này cũng là hai giáo sư rất nổi tiếng trong cùng lĩnh vực là Andrei Shleifer và David I. Laibson. Theo lời giới thiệu lúc ban đầu, để học được môn này, sinh viên phải có một số kiến thức cơ bản về tài chính mà tôi lại chưa từng được học. Thế nhưng qua bảng giới thiệu chung của nhà trường, tôi biết rằng mình sẽ chỉ có thể học được môn này vào năm thứ hai mà thôi. Nếu không nắm bất lấy cơ hội này thì sẽ không còn một cơ hội nào khác nữa cả, thật là đáng tiếc! Nhưng tôi vẫn đăng lý học theo đúng nguyện vọng của mình và đã được chấp thuận. Sau khi vào học, tôi mới biết rằng đa số sinh viên đang cùng học với mình đều là sinh viên năm thứ tư của trường.

            16 môn chuyên ngành mà tôi lựa chọn đều rất hấp dẫn. Các môn học này đều nhằm bồi dưỡng cho sinh viên năng lực sử dụng các phương pháp toán học để phân tích và giải quyết các vấn đề kinh tế. Chính vì thế, chúng mang tính ứng dụng rất lớn. Trong thời gian học tập tại Harvard, tôi đã từng đi làm thêm một số việc và về cơ bản thì chúng ít nhiều có liên quan đến những năng lực mà chuyên ngành học đó sẽ bồi dưỡng cho tôi, đặc biệt là 3 môn học khó nhất trong chuyên ngành kinh tế ở đây là: “Thị trường vốn, Tài chính doanh nghiệp và các vấn đề kinh tế tài chính”.

            Nội dung của môn học “Thị trường vốn” là: Phân tích thị trường tiền tệ và các chiến lược đầu tư, các lý luận về chính sách giá, hiệu suất thị trường, quản lý rủi ro, lý luận về lợi nhuận, các công cụ tài chính khác (như trái phiếu, cổ phiếu) và các công cụ cân bằng thị trường. Nắm được các kiến thức này sẽ giúp sinh viên nhận thức được các hiện tượng của thị trường vốn và xu hướng phát triển của thị trường trong tương lai.

            Nội dung của môn học “Tài chính doanh nghiệp” là: Dự toán tiền vốn, cơ cấu tiền vốn của một doanh nghiệp, chính sách lợi nhuận, cơ chế khuyến khích đầu tư trong nội bộ doanh nghiệp, quyết toán, …Nắm được các kiến thức này sẽ giúp sinh viên biết cách tối đa hóa giá trị hiện thực của một doanh nghiệp. Đây là một môn học mang tính vi mô về tài chính, có tính ứng dụng cao.

            Môn học “Các vấn đề kinh tế tài chính” lại mang nhiều tính nghiên cứu, là môn học khó nhất trong các môn thuộc chuyên ngành kinh tế của trường. Nội dung của môn học này đề cặp đến: Các lý luận và vấn đề thực tiễn của kinh tế tài chính, các hành vi tài chính và hiệu suất của thị trường, sự phối hợp giữa thị trường vốn và chính sách tiền tệ khác,…Trọng điểm của môn học là các vấn đề được mang ra thảo luận và nghiên cứu thường xuyên như: Phương thức tính toán tiền lương cho Tổng giám đốc của các doanh nghiệp lớn liệu có hợp lý không? Vì sao doanh nghiệp không thích tính lương cho nhân viên theo số cổ phiếu mà họ có được? …(Tiện đây, tôi cũng nói thêm rằng thói quen của các nhà kinh tế học phương Tây là nghiên cứu các vấn đề cụ thể chứ không phải sự trừu tượng, chung chung). Việc đưa các vấn đề như trên vào nội dung giảng dạy và thảo luận đều nhằm mục đích giúp sinh viên có được năng lực phân tích độc lập và giải thích được các hoạt động kinh tế tài chính cũng như các hiện tượng kinh tế. Phương thức học của chúng tôi là giảng viên lên lớp, nêu ra một hiện tượng, sau đó chúng tôi cùng nhau thảo luận. Không chỉ nghiên cứu về hiện tượng được nêu ra, chúng tôi còn nghiên cứu cách đưa ra quan điểm của mình như thế nào, thu thập số liệu cần thiết ra sao…

            Chuyên ngành kinh tế học của trường Harvard đã từng giành được giải thưởng Nobel về kinh tế học cho thành quả nghiên cứu xuất sắc. Vì đề cập đến rất nhiều vấn đề thực tiễn nóng hổi trong cuộc sống nên càng học chúng tôi lại càng thấy thú vị hơn.

 

          (*) Quản lý dạy học: Vừa nghiêm túc lại vừa linh hoạt.

         

          Trên các bãi cỏ rộng lớn hoặc trong các giảng đường lớn của trường Harvard, tôi luôn cảm thấy có một sự nghiêm túc. Tuy nói rằng sinh viên Mỹ đi học rất dễ nhận được điểm A, nhưng các giáo sư ở Harvard lại có những yêu cầu rất nghiêm khắc đối với sinh viên, tiêu chuẩn để đánh giá, cho điểm cũng rất nghiêm ngặt. Không giống với cách cho điểm tuyệt đối để đánh giá kết quả thường thấy ở các trường khác, trường Harvard thường cho điểm theo nhiều cách khác nhau. Cho dù có bao nhiêu sinh viên đạt điểm cao đi chăng nữa thì số lượng sinh viên được xếp loại A luôn luôn chỉ là số ít (nghe nói là 10%). Điểm cao nhất cho một bài luận xuất sắc mà sinh viên viết xong là B+, nếu muốn đạt điểm A- thì trong bài làm của bạn còn phải có những sáng tạo độc đáo. Để đảm bảo truyền thống quản lý học tập nghiêm ngặt ấy, nhà trường cũng theo dõi sát sao các giáo sư khi cho điểm, đánh giá sinh viên.

            Công tác quản lý dạy học của trường Harvard có nhiều điểm nghiêm khắc nhưng cũng lại rất linh hoạt. Ví dụ, nếu sinh viên thấy không hài lòng với điểm số và đánh giá của giảng viên dành cho mình thì có thể đề nghị xem xét lại: “Tại sao thầy lại không hiểu được ý nghĩa thật sự trong bài làm của em…?” Qua quá trình thuyết phục, biện luận, nếu cảm thấy sinh viên có lý thì các giảng viên sẵn sàng thay đổi lại điểm số cùng những đánh giá lúc trước của mình.

            Khi còn học năm thứ nhất, đang lúc chuẩn bị hoàn thành một bài luận thì tôi lại chợt nảy ra một ý tưởng rất hay. Tuy nhiên muốn được viết lại từ đầu, nhưng sợ không kịp thời gian nên tôi đã gửi cho thầy giáo một bức thư: “Theo tiến độ hiện nay thì em hoàn toàn có thể hoàn thành được bài luận vào đúng thời gian quy định. Nhưng như vậy sẽ không phải là cách làm tốt nhất và chắc chắn sẽ khiến em phải hối hận. Nếu thầy có thể cho em thêm 24 giờ nữa, chắc chắn em sẽ viết xong một bài luận khiến cả thầy và em đều vô cùng hài lòng”. Sau khi xem xét đến thái độ nhiệt tình, tích cực học tập của tôi trong suốt thời gian trước đó, thầy giáo đã nhanh chóng đồng ý với đề nghị này.

            Tính linh hoạt trong quản lý dạy học còn được thể hiện ở việc nhà trường cho phép sinh viên được thay đổi các môn học đã lựa chọn từ trước đó. Chỉ cần được giảng viên phê chuẩn thì bạn vẫn có thể thay đổi môn học trước ngày thứ hai của tuần thứ năm sau khi năm học mới bắt đầu; Trước ngày thứ hai của tuần học thứ bảy, bạn có thể giảm số môn học mà mình đã lựa chọn nhưng không được tăng thêm bất cứ một môn nào khác. Sau đó nếu có trường hợp đặc biệt nào đó xảy ra, sinh viên vẫn có thể trực tiếp đến gặp ban giám hiệu nhà trường để đề nghị được thay đổi môn học. Cho dù bị từ chối thì bạn cũng vẫn có thể tiếp tục đề nghị. Có một câu nói được lưu hành rất rộng rãi trong nhà trường là: “Khi thầy cô nói “Không” nghĩa là bạn sẽ phải tiếp tục cố gắng thêm một lần nữa!”

            Tại trường Harvard, dù cho bạn có chủ động trong học tập hay không thì trình độ sử dụng các nguồn hỗ trợ cho học tập vẫn có thể có những sự thay đổi. Sinh viên Harvard đều vô cùng bận rộn. Một trong những nguyên nhân khiến họ trở nên bận rộn như vậy là vì sử dụng quá nhiều các công cụ và cơ hội hỗ trợ học tập. Không ai dám coi nhẹ hoặc bỏ qua những công cụ và cơ hội như vậy. Tôi cũng không phải là trường hợp ngoại lệ. Ngoài giờ học chính khóa, tôi luôn cố gắng tranh thủ thời gian để học thêm ngay khi có cơ hội.

            Chính phương thức quản lý học tập và giảng dạy linh hoạt như vậy đã mang lại cho sinh viên sự thoải mái về tâm lý. Mỗi một sinh viên đều luôn luôn cố gắng nỗ lực, tích cực phấn đấu trong học tập . Lấy phương thức kiểm tra viết (viết luận, làm bài tập) thường thấy nhất ở Harvard, giảng viên chỉ yêu cầu độ dài của bài luận là vài trang giấy, chủ đề do sinh viên tự chọn. Điều đó khiến cho không gian bàn luận được mở rộng hơn rất nhiều. Trong môn học viết luận ở năm thứ nhất, khi lần đầu tiên được viết thỏa thích theo sự lựa chọn của chính mình, tôi đã thật sự thấy “ngợp” trước một rừng đề tài muôn màu muôn vẻ. Trong lần kiểm tra đó, các bạn của tôi thường lựa chọn những đề tài như:

            - “Ý nghĩa của trường đại học đối với người dân Mỹ”

            - “Lý luận và nghệ thuật hiện đại”.

            - “Câu chuyện ghi trong bệnh viện và chế độ tự điều tiết của các bác sĩ”.

            - “Cách nhìn nhận cuộc sống của những người đang thất nghiệp”.

            -“Sự không bình đẳng của câu nói: “Trước pháp luật, mọi người đều bình đẳng”- Đây cũng chính là đề tài mà tôi lựa chọn.

            -“Những ảnh hưởng ngầm của giới tính và chủng tộc đối với thành tích kiểm tra của sinh viên đại học”.

            -“Các hàm nghĩa khác nhau của câu “Tôi rất mệt” mà chúng tôi thường nghe được ở trong trường”.

            Các thầy cô giáo không giới hạn việc chúng tôi nên nghiên cứu vấn đề gì, nhưng họ cũng yêu cầu chúng tôi phải tuân thủ nghiêm ngặt các quy tắc khi nghiên cứu đề tài mình đã chọn. Trước khi biến những tư tưởng của mình thành một bài luận, bạn phải làm được 3 việc quan trọng sau đây:

 

            1) Tra cứu tài liệu: Xem xem có xâm phạm quyền tác giả của một ai đó hay không. Nếu lập luận hoặc quan điểm của bạn giống hệt với bất cứ một người nào đó thì bạn phải tìm cách thay đổi chúng hoặc lựa chọn lại đề tài. Tại Harvard, xâm phạm đến quyền tác giả là một trong những lỗi lầm nghiêm trọng nhất, không chỉ gây ảnh hưởng đến uy tín của nhà trường và con đường học tập của bạn mà bạn thậm chí còn có thể bị kiện ra tòa và phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc làm đó của mình.

            2) Tìm hiểu quan điểm của các chuyên gia: Bạn phải bàn đến cả những quan điểm có lợi và bất lợi cho mình. Hơn nữa, tất cả những quan điểm được nhắc đến cần nêu rõ nguồn gốc xuất xứ, không được mơ hồ, không được để cho những người khác hiểu lầm rằng quan điểm của người khác đó là sáng kiến của chính bạn.

            3) Tra cứu số liệu (hoặc điều tra và thống kê lại): Hãy dùng hiện thực khách quan để ủng hộ cho những quan điểm của bạn. Nếu trong bài luận chỉ gồm những câu như: “Tôi cho rằng…” thì e rằng bạn sẽ không đủ điểm để qua được môn đó.

            Ngoài ra còn một điều nữa mà tôi gọi là “phần đóng góp của người bản địa”, đó chính là những quan điểm thực tiễn có trong trường đã giúp cho các bài luận của tôi luôn phù hợp với yêu cầu của giáo viên. Chính điều này đã khiến cho tôi thêm tôn trọng “quyền tác giả” tại Harvard, đồng thời cũng thúc đẩy không ngừng sáng tạo tư duy trong học tập.

            Phần đông các giáo sư trong trường Harvard đều là những người đứng đầu các lĩnh vực chuyên môn. Họ vừa rất nghiêm khắc trong việc giáo dục, bồi dưỡng kiến thức chuyên ngành cho sinh viên nhưng cũng lại rất nhanh chóng giúp sinh viên có hứng thú với ngành học, lĩnh vực mà mình đã lựa chọn. Không chỉ giúp chúng tôi tìm hiểu sâu thêm về chuyên ngành của mình, các giáo sư ở đây còn luôn khuyến khích chúng tôi đưa ra những quan điểm, lý giải mới mẻ để dần hình thành nên hệ quan điểm hoàn toàn mới của riêng bản thân mỗi người.

            Nhưng, cho dù bạn có phản đối hay tán đồng với các quan điểm cũ, hoặc có được những suy nghĩ, sáng tạo mới mẻ nào đó thì bạn đều cần phải đưa ra được những luận chứng cụ thể để chứng minh điều đó. Nếu chỉ đơn thuần là những luận cứ chung chung thì khi bị các giáo sư vặn hỏi đến cùng, chắc chắn bạn sẽ không thể lý giải, chứng minh được quan điểm của mình.

            Phương pháp học tập vừa nghiêm túc vừa mở rộng này đã tỏ ra khá hiệu quả và khiến chúng tôi vô cùng hứng thú. Đồng thời, nó cũng đòi hỏi tất cả sinh viên phải có thái độ học tập, nghiên cứu nghiêm túc. Nếu thiếu luận điểm, luận cứ rõ ràng thì không thể hoàn thành được bài luận của mình. Có lẽ chính đặc điểm này cũng đã góp phần tạo nên những đặc trưng riêng của trường Harvard so với các trường đại học khác.

 

(*) Học và học không ngừng.

 

         

 

           Khuôn viên trường Harvard rất rộng, để có thể đi được hết một vòng qua ký túc xá, khu giảng đường và thư viện cũng tốn khá nhiều thời gian. Trước khi đến đây, tôi đã lên kế hoạch là sẽ mua một chiếc xe đạp, nhưng sau khi đến thì mới biết rằng lượng xe hơi ở đây rất nhiều. Việc đi xe đạp trong trường sẽ gặp nhiều nguy hiểm. Vì thế tôi đã quyết định sẽ đi bộ đến giảng đường mỗi ngày. Đó cũng là một cách rất tốt để tôi tập thể dục.

            Vì ở trường thường xuyên có những buổi nói chuyện, tọa đàm, thu hút rất đông sinh viên đến tham dự, hoạt động ngoại khóa của sinh viên cũng rất nhiều nên lượng tài liệu tham khảo mà chúng tôi phải đọc thêm cũng rất lớn. Đó là một trong những cách làm hay để chuẩn bị cho luận văn tốt nghiệp mà chúng tôi sẽ làm vào cuối khóa học. Các thầy cô giáo cũng rất hiểu điều này nên thường đề ra cho chúng tôi một thời gian rõ ràng để nộp bài tập tuần, thường là vào 5 giờ chiều ngày thứ sáu hàng tuần. Nếu không kịp nộp bài luận cho thầy cô vào giới hạn đó thì bạn sẽ bị trừ điểm (điểm bài tập thường chiếm khoảng trên dưới 20% tổng điểm khóa học của một sinh viên).

            Một ngày thứ sáu sau khi vào học được hai tháng, tôi đang đi trên đường đến nộp bài tập cho thầy giáo thì đột nhiên bị trượt chân và ngã sóng xoài trên đường. Tôi bị đau đến nỗi không thể chịu nổi và bật khóc. Ngay lúc đó, có một người khác nhìn thấy tôi bị ngã và đã gọi xe cấp cứu của nhà trường tới giúp đỡ. Nhưng trong khi đang bị ngã đau đó, tôi cũng không quên nhờ những người bạn học khác mang giúp bài tập đến nộp cho thầy giáo.

            4 tuần sau đó, ngày nào tôi cũng phải đi học bằng đôi nạng gỗ, nhưng tôi đã có gắng để không bỏ một buổi lên lớp và một bài tập nào. Tôi chỉ bỏ lỡ cơ hội được tham gia vào đội vũ quốc tế của nhà trường mà thôi. Sợ ba mẹ lo lắng nên tôi không hề nói gì về việc mình bị ngã đau, cho đến Tết năm đó thì mẹ chợt hỏi tôi rằng: “Môn vũ quốc tế có thú vị không con?”, lúc đó tôi mới kể lại cho mẹ nghe rằng mình bị ngã và không thể tham gia được vào đội vũ quốc tế của nhà trường.

            Sau khi thi cuối học kỳ của năm thứ nhất, thầy giáo dạy toán có gửi cho tôi một bức thư. Trong thư viết: “Quy định của nhà trường không cho phép công bố thứ tự kết quả của sinh viên, nhưng thầy rất muốn báo cho em biết rằng em đã là người đứng đầu lớp trong kỳ thi vừa rồi”. Khi năm học đầu tiên kết thúc, giáo sư môn kinh tế học là Martin Feldstenin đồng thời cũng là Chủ tịch Trung tâm nghiên cứu kinh tế Mỹ đã mời một số sinh viên có kết quả học tập xuất sắc đến dự một buổi tiệc cocktail do ông tổ chức. Ông cũng đề nghị những sinh viên này cùng tham gia đánh giá bài làm của các sinh viên mới trong năm học tiếp theo. Tôi vô cùng vinh dự là một trong số những người được mời hôm đó.

            Trong năm thứ hai, vì có thành tích học tập tốt ở môn toán mà tôi đã được trở thành một người phụ đạo môn toán tích phân và vi phân cho một số bạn khác có thành tích học chưa tốt lắm. (Các sinh viên được nhận học bổng của trường Harvard đều phải nhận làm thêm một công việc gì đó trong trường để có thêm tiền mua sách vở và đồ dùng học tập). Khi kết thúc học kỳ, vì được nhận xét là “có thành tích tốt”, năng lực biểu đạt rõ ràng, kiến thức sâu” nên tôi đã được thầy cô trong khoa toán của trường nhận làm sinh viên trợ giảng môn tích phân và vi phân.

            Khi học cùng nhau, các sinh viên Harvard thường không có thói quen nói về “thành tích học tập”. Việc nghe lén thành tích của các bạn khác cũng được xem là một biểu hiện của sự thiếu tự tin. Các trường trung học và đại học ở Mỹ đều coi kết quả học tập của sinh viên như một bí mật riêng tư của họ. Nhà trường không công bố kết quả đó một cách công khai mà chỉ nói riêng với từng sinh viên nếu thấy thật sự cần thiết. Các thầy cô và sinh viên của trường Harvard đều hiểu rằng: Điều quan trọng nhất trong suốt bốn năm học tập tại trường của bạn không phải là bạn đã đạt được bao nhiêu điểm mà là bạn đã tìm được một phương hướng phù hợp nhất để phát triển bản thân mình, tạo ra nền móng vững chắc cho tương lai. Vì thế, tất cả chúng tôi đều không ngừng tìm kiếm các phương hướng phát triển phù hợp nhất cho bản thân mình, không chỉ ở các giờ lên lớp mà còn trong các hoạt động ngoại khóa, trong những lúc làm thêm, trong quá trình học tập trong và ngoài trường.

            Cho dù như vậy thì tôi cũng vẫn thích được tìm ra những nét đặc sắc, thú vị và tinh túy hơn nữa cho sự nghiệp học hành của mình. Ví dụ: Khi còn học trung học, tôi thường xuyên cảm thấy kinh ngạc trước sự kỳ diệu của những con số. Quá trình học tập tại Harvard lại khiến tôi kinh ngạc trước những ứng dụng tuyệt vời của chúng. Sau khi vào đại học, tôi đã vượt qua được mức Honors (mức thành tích xuất sắc nhất) và năm nào cũng được nhận học bổng danh dự của trường (Harvard College Scholarship)

            Trong thời đại nền kinh tế phát triển nhanh chóng như hiện nay, thành tích học tập tốt hay không tốt đôi khi không có ý nghĩa gì. Các anh chị sinh viên khóa trên thường nói với chúng tôi rằng thành tích học tập không có ảnh hưởng gì đến kết quả tìm việc làm của sinh viên sau khi tốt nghiệp. Nhưng khi nền kinh tế đang ở trong tình trạng suy thoái và việc tìm kiếm việc làm trở nên khó khăn hơn thì những ảnh hưởng của thành tích học tập đối với việc tìm được việc làm của một sinh viên nào đó lại vô cùng rõ ràng. Các công ty mà tôi vào thực tập ở năm thứ ba và thứ tư đều có một số yêu cầu đối với thành tích học tập của sinh viên. Được nhận vào thực tập tại những công ty tốt như vậy khiến tôi cảm thấy vô cùng vinh dự.

 

          (*) Làm thêm – làm mà học.

         

            Ngoài công việc trợ giảng của bộ môn toán ở trường, tôi còn làm thêm một số công việc khác nữa. Công việc đầu tiên mà tôi nhận làm khi mới đặt chân đến Harvard là giúp việc nghiên cứu cho một giáo sư tài chính. Nhiệm vụ chính của tôi lúc đó là cập nhật kho dữ liệu. Kho dữ liệu đó do hai thành phần tạo thành: Một là tình hình cơ bản của  một số quốc gia và hai là báo cáo của các ngân hàng lớn của các quốc gia đó. Những số liệu ấy đã trở thành những tài liệu quan trọng khi các quốc gia đó muốn thay đổi một chính sách tài chính tiền tệ nào đó.

            Công việc mà tôi đã đầu tư nhiều thời gian nhất khi còn ở Harvard là làm giúp việc nghiên cứu cho hai giáo sư ở Học viện kinh tế của trường vào mùa hè năm thứ nhất. Khi đó hai giáo sư này đang tốn rất nhiều thời gian cho một đề tài nghiên cứu thú vị: Tâm lý đầu tư. Hai giáo sư cần một sinh viên giúp việc có thể làm việc được trong một thời gian tương đối dài. Trong bản thông báo tuyển dụng của họ có ghi rõ là cần tuyển những người đã có kinh nghiệm nghiên cứu, lại yêu cầu có hiểu biết đầy đủ về hai chương trình phần mềm máy tính mà tôi chưa được học. Sau khi đọc được thông báo tuyển dụng đó, cảm thấy đây là cơ hội rất tốt nên tôi đã mạnh dạn ghi tên đăng ký dự tuyển. Sau này, hai giáo sư có nói với tôi rằng họ thật sự không ngờ là lại có một sinh viên năm thứ nhất cũng đăng ký dự tuyển vào vị trí đó nên cảm thấy rất ngạc nhiên và đồng ý cho tôi một cơ hội để được trả lời phỏng vấn. Sau khi nhận được thông báo đến phỏng vấn, tôi đã thức ba đêm liền để lên mạng mày mò học về hai chương trình máy tính mà mình chưa biết kia để đề phòng có phần kiểm tra kỹ năng ngay trong buổi phỏng vấn đó. Sau đó, tôi mang theo sự nhiệt tình, hăng hái của một sinh viên năm thứ nhất đến dự buổi phỏng vấn. Hôm đó có rất nhiều người là nghiên cứu sinh cũng đang xếp hàng dài chờ đến lượt vào phỏng vấn. Người sau này làm việc cùng tôi là một nghiên cứu sinh. Nhưng khi phỏng vấn, hai giáo sư không kiểm tra về trình độ sử dụng máy tính của tôi (có lẽ họ cho rằng tôi dám đăng lý dự tuyển thì chắc chắn phải thông thạo về chương trình đó rồi), họ chỉ hỏi tôi một vài quan điểm về kinh tế học. Lúc đó tôi đang đọc một cuốn sách nổi tiếng về kinh tế và đã có được những cảm nhận mới mẻ, tôi liền trình bày những cảm nhận đó với một sự nhiệt tình đặc biệt. Kết quả, tôi đã được nhận làm công việc đó. Điều này khiến tôi vô cùng vui mừng.

            Công việc của tôi khi đó rất khô khan, chủ yếu là sắp xếp và chỉnh lý lại những dữ liệu quan trọng. Chúng khiến tôi nhớ lại những điều cha mẹ vẫn thường nói khi còn ở nhà: Một sự nghiệp vĩ đại luôn được bắt đầu từ những công việc vụn vặt nhất. Điều đó cũng có nghĩa là “Không cố gắng những việc nhỏ thì sao làm được những việc lớn?” Vài tháng sau đó, vì phải về nước để chuẩn bị cho Hội nghị của HPAIR sẽ được tổ chức tại Bắc Kinh nên tôi xin thôi làm công việc trợ lý đó.

            Sau khi năm học thứ hai bắt đầu, tôi đã tìm được công việc còn hấp dẫn hơn: Làm trợ lý cho Trung tâm nghiên cứu kinh tế quốc gia Mỹ. Công việc cụ thể của tôi là sử dụng các phương pháp toán học để nghiên cứu về tình hình đầu tư mạo hiểm và hiệu quả của nó trong nền kinh tế. Đó thật sự là một công việc vô cùng thú vị.

            Tôi còn làm thêm một số công việc tạm thời nữa cũng thú vị không kém. Ví dụ: Tham gia làm thực nghiệm tâm lý do các giáo sư của Học viện kinh tế của trường chủ trì. Tất cả những bài thực nghiệm đều do Học viện kinh tế của trường tự thiết kế với mục đích có được tài liệu cho các buổi nghiên cứu, thảo luận sau này. Động cơ để sinh viên tham gia vào các hoạt động thực nghiệm này là vừa có thêm tiền trang trải cuộc sống lại vừa học thêm được nhiều kiến thức mới, phát triển tài năng.

            Tôi có ấn tượng sâu sắc nhất với một buổi thực nghiệm về kỹ năng đàm phán. Trong bài thực nghiệm đó, nhiệm vụ của tôi là phải đóng vai bà chủ và thương lượng về mức tiền thù lao cho những người đến xin việc. Thầy giáo nói với tôi rắng: ‘Mức tiền thù lao mà em đưa ra không được quá 70 đôla. Mức chênh lệch của khoản thù lao cho người làm em thương lượng được với 70 đôla chính là khoản thù lao của em trong buổi đàm phán ngày hôm nay. Nếu em không đàm phán thành công thì cả em và bạn đó sẽ không nhận được một khoản tiền nào cả”. Tôi không biết thầy giáo cho bạn kia mức giới hạn là bao nhiêu, bạn ấy cũng không được biết về mức giới hạn thầy giao cho tôi. Theo như tôi biết thì buổi đàm phán như thế này, sinh viên được trả 50 đôla. Trên nguyên tắc đôi bên đều có lợi, tôi sẽ chia 50 đôla đó (nếu có) cho người bạn kia của mình và buổi đàm phán sẽ kết thúc nhanh chóng. Nhưng không ngờ, người tham gia đàm phán với tôi hôm đó lại là một cô bạn da trắng với yêu cầu cao đến chóng mặt: 110 đôla. Cô bạn không hề để ý đến điều kiện của tôi mà cứ khăng đòi cho được số tiền đó. Nhưng tôi cũng đã kiên quyết không kém và nhất định không trả nếu cô ấy không chấp nhận một khoản thù lao là 10 đôla. Cuối cùng, tôi đã có thêm được 15 đôla so với khoản 25 đôla như dự tính ban đầu.

            Đó thật sự là một bài học vô cùng thú vị.

            Tuy có rất nhiều hoạt động ngoại khóa như vậy nhưng khi học đến năm thứ ba, thứ tư, chúng tôi còn phải tiếp tục tham gia vào rất nhiều các hoạt động tìm kiếm việc làm. Việc học vẫn là ưu tiên hàng đầu của tất cả chúng tôi. Vì số lượng sách mà các thầy yêu cầu đọc rất nhiều nên đôi lúc chúng tôi phải cùng nhau đọc và ghi chép chung. Thời gian ngày càng thu ngắn lại. Tại Harvard, hầu như tuần nào tôi cũng có một thời biểu biểu rất chi tiết, trên đó có ghi rõ những việc cần làm và thời gian dự kiến hoàn thành. Tại nước Mỹ, tất cả mọi người đều có thói quen lên kế hoạch trước cho những việc cần làm và họ cũng đều tuân thủ rất nghiêm ngặt các kế hoạch đã đề ra.

            Một bảng thời gian biểu của tôi khi ở Harvard gồm có những nội dung sau (lấy năm thứ ba làm ví dụ):

            Từ thứ hai đến thứ sáu: sáng 7 giờ, tập thể dục trong vòng nửa tiếng, sau đó đi tắm, ăn sáng, trả lời email. Mỗi ngày tôi đều nhận được khoảng 50 email, đa số đều liên quan đến việc học tập và các hoạt động ngoại khóa trong trường. Tuy lên kế hoạch dành 1 tiếng đồng hồ để trả lời nhưng thường không bao giờ xong được trong vòng 1 tiếng nên đành để lại đến tối tiếp tục trả lời. Các email của ba mẹ gửi đến tôi cũng chỉ có thể đọc lướt qua và nếu không có việc gì gấp thì cũng không trả lời ngay được. Tôi để chúng lại đến khi nào có thời gian rảnh rỗi thì sẽ đọc lại toàn bộ từ đầu đến cuối một lượt

Tin cùng chủ đề

Có thể bạn quan tâm

 

. Lời khuyên làm giàu không phải ai       . “Tại sao nhiều người không dám              . Khi được ca ngợi và cả bị 

 cũng hiểu:  "Đừng cố ăn một bữa            trở thành con người mà họ muốn…?”       chỉ trích,  Jeff Bezos làm gì?

   đắt tiền nếu không ai nhìn thấy"

       NO PHOTO                      NO PHOTO                   NO PHOTO

 

Nếu có thể chi nhiều tiền cho việc ăn uống, hãy dành bữa      "Tôi đã sẵn sàng và có thể nghe hơi vô lý, nhưng tôi đã sẵn      Amazon vừa thông báo sẽ tăng mức lương tối thiểu cho 

ăn đó cho những người có thể khiến bạn tăng thêm thu            sàng chết đi tất cả phần con người mình vốn có, để có thể      toàn  bộ nhân viên đang làm việc tại Mỹ lên 15 USD/giờ,

nhập, cấp trên hoặc đối tác… Đừng lãng phí vào ăn uống        sinh ra phần con người mà tôi muốn trở thành. Lý do tại sao     bắt đầu  từ tháng 11. Đây là quyết định nhận được nhiều 

sang chảnh, trong khi bạn chỉ cần một bữa cơm đủ din ..         nhiều người không dám trở thành con người mà họ muốn…”     lời ca ngợi  nhưng cũng hứng không ít chỉ trích.

 

. 30 điều khác lạ trong giới ‘nhà nghề’       . Ngân sách mất tiền, chúng ta lừa      . Lịch sử một vương triều Trung 

       có thể bạn chưa từng biết về                  nhau  và…chúng ta lừa thiên hạ         Quốc  và  câu chuyện chặt đứt 

                quy trình làm đẹp                                                                                              long mạch  rúng động một thời

      NO PHOTO                       NO PHOTO                      NO PHOTO

 

Rất có thể những gì được trình bày dưới đây là những            Những điều đáng buồn này được nói ra trong một cuộc hội         Lo ngại nhà Hậu Kim uy hiếp vương triều, giới phong 

điều rất khác lạ bạn chưa từng biết đến. Bởi vì đó là                thảo mới đây của Ủy ban Kinh tế của Quốc hội. Thậm chí,         thủy Đại Minh hiến kế: Chỉ có triệt phá phong thủy, 

những bí mật nhà nghề được chắt lọc từ những người            nguyên Viện trưởng Viện Khoa học Lao động, TS Nguyễn         chặt đứt long mạch, để lọt hết “vương khí” mới có thể 

nghệ sĩ hàng đầu trong lĩnh vực trang điểm.                            Thị Lan Hương nói: Tôi nói thẳng là bịa. Chỉ tiêu lao động             giải trừ được nguy cơ lớn nhất từ Nỗ Nhĩ Cáp Xích.

 

 Có thể bạn đã bỏ lỡ

.

. Để trở nên quyến rũ hơn trong mắt đàn ông, các mỹ nhân                     . Chuyện về người phụ nữ duy nhất trong lịch sử  chỉ muốn trở thành bậc 

                                                                Trung Hoa xưa đã làm gì?                                                                                  “mẫu nghi thiên hạ”, sinh ra vua

  . Ngẫm hành trình sinh mệnh của cá hồi,  nghĩ về cuộc đời                    .Chỉ dành cho những gia đình giàu có:  Bí quyết gì để một gia tộc

                                                                                 của…tôi và bạn                                                                                                     hưng thịnh suốt 800 năm?

. Nếu bạn muốn thành công ở tuổi 30 thì ở tuổi 20,  những kỹ           . Dẫu được biết đến là bài thơ thần của Lý Thường Kiệt,  nhưng tác giả “Nam

                                                               năng này bạn cần phải học                                                                            quốc sơn hà” vẫn còn là một dấu hỏi…

 .Lời khuyên của một triệu phú  về cái giá của… sự giàu có                          . Thường xuyên nuốt nước bọt,  Hoàng đế Càn Long trường thọ hơn người

. “Từ bây giờ đừng kêu cha ra mở cửa cho con nữa”:  3 câu chuyện         . Nỗi lo không của riêng ai: Một thế hệ không đọc sách  là một thế hệ 

                                                                         khiến ta thiện lương hơn                                                                                              không có hy vọng

. “Hãy bình tĩnh mà…hoang mang”:  Những chia sẻ với người trẻ         .Bạn muốn sử dụng phong thủy để cải biến vận mệnh?  Liệu bạn đã 

                                                                            của những người còn trẻ                                                                     vận  dụng phong thủy đúng cách?

.“Nhân sinh có mệnh, phú quý do Trời”.  Vậy ai cai quản phúc phận,     . Kiếp nhân sinh những điều mong bạn hiểu,  để khỏi hối hận về sau.      

                                                                         may mắn của bạn?            .Chuyện cậu chàng ghét học, chán thầy và vụ cá cược học trò Việt ít ai dám…

.“Mối quan hệ gia đình độc hại” –  Một lý giải vì sao chúng ta mãi      . Ông chủ Nhật và người ăn mày  và câu trả lời vì sao hàng Nhật 

                                                                       không trưởng thành                                                                                      chinh phục cả thế giới

. Ai cũng có một khát khao, sao không nuôi lớn cái khát khao ấy,            . “Khi tin là có thể, thì bạn đã đạt được một nửa thành công”. Nếu 

                                       lại đi bán tuổi thanh xuân với giá rẻ rề?                                                                              chưa tin, xin hãy đọc tiếp…

. “Điều độ chỉ dành cho những ai hèn nhát”  – Lời nhắn nhủ                     .Chuyện vị tiến sĩ cao ngạo và chú gấu chó: Ai cũng nên đọc

                                      của một triệu phú ở thung lũng Silicon                                                                                                   một lần ... hối tiếc.

. Vì sao không ai dám động đến mộ của thầy phong thuỷ từng              . Tài năng số mệnh may rủi.... Điều gì giúp bạn thành công?

                                                      xem tướng cho Võ Tắc Thiên?          . Hai vùng đất phát đế vương  nổi tiếng nước Nam

. Giới thiệu cô vợ trẻ đẹp của mình là mẹ,  chàng trai bán mỹ           . Chuyện ba chàng trai và vườn táo lạ:   Giàu nghèo nằm ở tầm nhìn            

                                                    phẩm đã ung dung thu lợi                 . “Tiền vốn dĩ nằm trong tay những người có tiền”.  Sao không lấy tiền từ túi họ?

. Tại sao nhiều người phải vất vả làm việc kiếm tiền, trong                . Sơ hãi - Bạn đồng hành của thất bại

                 khi với một số khác thì việc làm giàu hết sức dễ dàng?      . Làm thế nào để trở thành người thông minh  và thật sự thành công?

. 5 bài học kinh doanh sâu sắc  từ…Tam Quốc Diễn Nghĩa               .Trên đời này, vì sao có những người thường  xuyên gặp vận rủi?      

.Cá chép vì sao ngàn năm  vẫn không thể ‘hoá Rồng’?                             .Ngôi mộ hàng xóm của Tổng thống Mỹ  và câu chuyện thức tỉnh thế giới

.Ông Park đã vận dụng binh pháp Tôn Tử và  Quỷ Cốc Tử                . 5 chiến thuật kinh điển trong binh pháp  giúp cuộc đời bạn thay 

                           như thế nào để dẫn U23 Việt Nam tới kỳ tích?                                                                                             đổi chỉ sau 1 đêm                    

 .7 bài học đáng tiền từ người đàn ông giàu nhất trong lịch sử                  . Một câu nói của người Hàn Quốc và cái thiếu của tất cả chúng ta

. Gửi các bạn muốn làm GĐ tuổi 22:  Để trở thành doanh                      . Nơi an táng Đại tướng Võ Nguyên Giáp  là huyệt Đại Cát,   

                                                              nhân, cần làm việc 14h/ngày…                                                                                      “tụ khí tàng phong”  

. Ngôi mộ trời cho kết phát  cho họ Trịnh 8 đời làm chúa                              . Chuyện Nhà sư và Chúa trời: Ai cũng cần đọc để biết  nắm bắt cơ hội 

. Thiên hạ, còn chỗ nào cho bạn                                                       . Giai thoại về ngôi huyệt mộ  phát tích nhà Trần 

  . Giải mã về sự thông minh & tài kinh doanh của người Do Thái         . Chuyện kể rằng, có một người đàn ông, một con chó ngao Tây Tạng và ...

  . Nghĩ lớn để thành công lớn - Được không?                            . Người giàu & người nghèo - Họ khác gì nhau?